CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Phương pháp dạy học tích cực Theo luật Giáo dục Việt Nam “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tư duy, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tư tưởng tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS”. PPDH tích cực là khái niệm để chỉ những phương pháp giáo dục hướng tới việc hoạt động hóa, chủ động hóa nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào tính chủ động sáng tạo của người học chứ không phải tập trung vào phát huy tính chủ động của người dạy. Dạy học là quá trình trao đổi kiến thức giữa GV và HS.
Nếu GV chỉ thuyết trình, có gì nói nấy thì những gì GV giảng chỉ là kiến thức một chiều. Có thể HS đã biết những kiến thức ấy, hay đó là những nội dung không hữu ích đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của các em. GV phải luôn đổi mới bài giảng cũng như phong cách đứng lớp. Mối quan hệ GV- HS sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp qua việc giải quyết các tình huống liên quan đến nội dung bài học và cuộc sống của HS.
Khi áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, giờ giảng của mỗi GV trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa. HS là trung tâm nhưng vai trò, uy tín của GV được đề cao hơn. Bên cạnh đó, khả năng chuyên môn của GV sẽ tăng lên nhờ áp lực của phương pháp, bởi nội dung kiến thức của từng giờ giảng phải được cập nhật liên tục để đáp ứng các câu hỏi của HS trong thời đại thông tin rộng mở. Khi GV dạy học bằng phương pháp dạy học tích cực, HS thấy được học chứ không bị học.
HS được chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm của mình đồng thời với việc bổ sung những kiến thức, kinh nghiệm không chỉ từ người thầy mà còn từ chính các bạn trong lớp. HS hạnh phúc khi được học, được sáng tạo, được thể hiện, được làm. Dạy bằng phương pháp giảng dạy tích cực chính là tìm mọi cách giúp HS được chủ động trong việc học, cho các em được làm việc, được khám phá tiềm năng của chính mình. GV cần giúp các em có được sự tự tin, có trách nhiệm với bản thân để từ đó chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng.
Charles Handy, nhà triết lý kinh doanh nổi tiếng người Anh, đã nói: “Để làm cho tương lai trở thành hiện thực, chúng ta cần phải tự tin và tin tưởng vào giá trị của chính mình. Đó là điều mà các trường học phải dạy cho mọi người” [23, tr. Và muốn HS có được sự tự tin và tin tưởng vào giá trị của chính mình, các em cần được học theo phương pháp chủ động. Chỉ khi các em được tự khám phá kiến thức, tự học, tự làm và tự bổ sung cho nhau thì kiến thức mới trở thành tri thức của người học, chuyển thành hành động, thành thói quen hàng ngày của họ.
5 skkn Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng, thể hiện sự chú ý đến đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng, có sự hứng thú thỏa mãn đối tượng. Trong dạy học Ngữ Văn “hứng thú học tập là sự say mê, tự giác, tích cực của cá nhân đối với tác phẩm văn học, nhân vật văn học cụ thể. Tạo hứng thú học tập Ngữ Văn là GV sử dụng phương pháp dạy học phù hợp giúp HS thích thú, tìm hiểu và tự bổ sung kiến thức. Môn Ngữ Văn ở trường THPT nhằm giúp HS có những kiến thức cơ bản, cần thiết về văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, góp phần hình thành ở HS thế giới quan, nhân sinh quan, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, con người, bồi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn và các năng lực nhận thức, tư duy, hành động.
Từ đó có suy nghĩ, thái độ ứng xử và hành vi đúng đắn trong cuộc sống. Vì thế PPDH môn Ngữ Văn ở trường THPT rất đa dạng, phong phú, bao gồm các phương pháp hiện đại (thảo luận nhóm, đóng vai, dự án…) và các phương pháp truyền thống (trực quan, vấn đáp, thuyết trình…). Để việc dạy học có hiệu quả, người GV phải biết lựa chọn các phương pháp phù hợp với nội dung bài học, với đối tượng HS nhằm tạo cho học sinh niềm hứng thú và sự yêu thích, say mê trong học tập. Tâm lí của HS khi học môn Ngữ Văn là phải đọc nhiều, viết nhiều, nhớ nhiều nhân vật, cốt truyện, sự việc … Điều này dẫn đến chán nản, đối phó với môn học, thậm chí có rất nhiều HS còn không muốn học, mượn vở chép bài, học chiếu lệ, trả bài qua chuyện để lấy điểm, quay cóp khi đi thi.
Vì vậy trong quá trình dạy học các tác phẩm tự sự dân gian, tôi đã áp dụng PPĐV để tạo hứng thú, kích thích khả năng tự giác, chủ động, sáng tạo đối với học sinh trong quá trình học tập. Khái niệm phương pháp đóng vai và vai trò của phương pháp đóng vai trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT a. Khái niệm phương pháp đóng vai Thuật ngữ “đóng vai” hiện nay đang được chúng ta sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê: “Đóng vai là thể hiện nhân vật trong kịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói năng như thật” [5, tr.
Trong cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ cho rằng: “Phương pháp đóng kịch trong dạy học là giáo viên cung cấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo các vai diễn. Qua đó họ học được cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành động như các kĩ năng ứng xử khác của nhân vật trong kịch bản” [6, tr. Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn “Giáo dục học tập 1” lại định nghĩa: “Đóng kịch là PPDH, trong đó GV tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện kịch bản đó nhằm giúp HS hiểu sâu sắc nội dung học tập” [8, tr.227] 6 skkn Trong tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 10 THPT cho rằng: “Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định” [9, tr. Có thể thấy, các quan điểm nêu trên đều có điểm chung, đó là coi PPĐV là phương pháp mà trong đó GV hoặc HS xây dựng kịch bản có nội dung học tập, yêu cầu người học đóng các vai diễn.
Bản chất của nó là vai trò chủ đạo của GV trong việc biên tập nội dung dạy học thành kịch bản hoặc tình huống phù hợp để người học sử dụng kịch bản hoặc tự xây dựng kịch bản và nhập vai, lĩnh hội kiến thức, hình thành kĩ năng. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, đóng vai có các hình thức phản ánh mức độ, yêu cầu và mang lại hiệu quả khác nhau. Do đó, dạy học bằng PPĐV không chỉ dừng lại ở việc đóng kịch. Bởi nó bao gồm việc xác định, lựa chọn kiến thức, xây dựng kịch bản, phân vai và thể hiện vai diễn.
Điều quan trọng hơn là từ việc đóng kịch ấy rút ra bài học về nhận thức, thái độ và kĩ năng cho người học. Như vậy, phương pháp đóng vai là một trong những PPDH tích cực, nhằm phát huy cao độ tính tự giác, độc lập, sáng tạo của người học. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng định nghĩa của tài liệu “Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 10 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2006, đó là “Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành “ làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định” [9, tr. Với định nghĩa này các tác giả tiếp cận phương pháp đóng vai theo hướng nhấn mạnh vai trò của người học qua việc thể hiện quan điểm thái độ, hành vi của mình trước tình huống được giao.
Vì vậy giáo viên nên tạo các tình huống mở để người học sáng tạo kịch bản, lời thoại phù hợp với nội dung bài học và kĩ năng của mình. Trong những tình huống giả định, phương pháp này giúp các em tập trung suy nghĩ về một vấn đề, xem xét nó trong mối quan hệ với tác phẩm văn học và bản thân, xem xét các cách ứng xử để lựa chọn cho mình một cách ứng xử phù hợp nhất. Tất nhiên là phù hợp với trình độ hiểu biết, quan điểm của học sinh đó về tình huống được đặt ra.Từ đó, GV có thể nắm bắt được mức độ hiểu bài của HS, hiểu HS của mình để có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá, uốn nắn và giáo dục phù hợp, kịp thời. Vai trò của phương pháp đóng vai trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT PPĐV có những vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới PPDH Ngữ Văn ở trường phổ thông, tạo hứng thú học tập cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy học.
PPĐV làm phong phú thêm phương pháp dạy học cho giáo viên, góp phần tích cực vào xu thế đổi mới PPDH Ngữ Văn ở trường phổ thông. PPDH là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Một PPDH khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để GV và HS phát huy hết khả năng của mình 7 skkn trong việc truyền đạt lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy, làm thay đổi vai trò của GV, đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và sáng tạo của HS. Trong khi đó hiện nay ở trường phổ thông, phương pháp thuyết trình vẫn chiếm ưu thế, vì vậy điều này đã làm mất đi một hình thái của tư duy đó là tư duy sáng tạo.
Tư duy sáng tạo tập trung vào khám phá các ý tưởng, phát triển thành nhiều giải pháp, tìm ra những phương án trả lời đúng thay vì chỉ có một phương án. PPĐV có khả năng kích thích tư duy sáng tạo của người học (sáng tạo trong giải quyết tình huống, sáng tạo trong xây dựng kịch bản, sáng tạo trong thể hiện hình tượng nhân vật…). Do vậy PPĐV có thể kết hợp với phương pháp thuyết trình để làm cho bài học sinh động, hạn chế nhược điểm và phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống. PPĐV giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn nội dung tác phẩm văn học đang học, phát triển trí tuệ và phẩm chất, nhân cách cho HS.