PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ông cha ta đã từng dạy “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Không phải ngẫu nhiên mà “học nói” được xếp vào vị trí thứ hai. Nhà giáo dục người Nga - Xukhômlinxki đã viết: “Từ ngữ tác động mạnh mẽ nhất đến trái tim, nó có thể trở nên mềm mại như bông hoa đang nở và nước thần, truyền từ niềm tin và sự đôn hậu.
Một từ thông minh hiền hòa tạo ra niềm vui, một từ ngu xuẩn tàn ác, không suy nghĩ, không lịch sự đem lại tai họa, từ đó có thể giết chết niềm tin và làm giảm sức mạnh của tâm hồn. Do đó, việc lựa chọn các từ ngữ văn hóa và có giáo dục là rất quan trọng trong giao tiếp”. Điều đó chứng tỏ kỹ năng nói là một kỹ năng rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Đặc biệt, trong thời kì đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, cả dân tộc đang bừng bừng khí thế trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì kỹ năng nói trở thành một kỹ năng không thể thiếu trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong công việc.
Điều này cũng phù hợp với mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 là góp phần hình thành và phát triển con người toàn diện. Trong đó, môn Ngữ văn đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành, phát triển năng lực giao tiếp với trục xuyên suốt là 4 kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết. Học sinh biết xác định mục đích giao tiếp, lựa chọn nội dung và các phương tiện giao tiếp phù hợp ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp, biết tiếp nhận các kiểu văn bản đa dạng; chủ động, tự tin và biết kiểm soát cảm xúc, thái độ trong giao tiếp giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ: Rèn các kỹ năng đọc, viết, nói, nghe. Tuy nhiên, hiện nay là cả người soạn sách giáo khoa THPT và người dạy còn chú trọng vào việc dạy, cung cấp các tri thức văn bản, Tiếng Việt, Làm văn hay đọc diễn cảm, đọc hiểu, luyện viết mà bỏ qua hay ít chú ý đến kỹ năng nói.
Vì thế khi ra đời, nhiều học sinh không nói rõ nghĩa, không biết nói ra những điều mình nghĩ, không truyền đạt chính xác thông tin, cảm xúc bản thân. Các em chưa tự tin, chủ động, hoạt bát trình bày quan điểm, tình cảm, ý kiến quan điểm bản thân. Mặt khác, một thực tế dễ nhận thấy là các em học sinh lớp 10 mới bước chân vào trường THPT, làm quen với môi trường mới, thầy cô mới, bạn bè mới. nên các em còn khá bỡ ngỡ, rụt rè.
Trong khi đó, bậc THPT là một cấp học có vị trí quan trọng trong việc hoàn thiện các kỹ năng, năng lực, phẩm chất. trở thành “bệ phóng”, là hành trang để các em có thể trở thành một công dân tự chủ khi bước vào đời. Vì vậy, nếu giáo viên không chú trọng nâng cao kĩ năng giao tiếp cho học sinh thì các em sẽ không dám bộc lộ cá tính, quan điểm, ý kiến của riêng mình, dần dần các em tự thu mình vào trong tập thể, trong “vỏ ốc” của chính mình. Do đó, việc nâng cao kỹ năng nói cho học sinh là rất quan trọng, giúp các em tự tin, mạnh dạn thể hiện quan điểm, ý kiến của mình.
1 skkn Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh qua giờ học Ngữ văn 10 là việc làm thiết thực vừa góp phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn, vừa hình thành phong cách cho học sinh, giúp các em tự tin trước tập thể, có kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nâng cao kĩ năng nói qua giờ đọc văn cho học sinh lớp 10 ở Trường THPT”. Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu tình hình khó khăn của học sinh liên quan trực tiếp đến kỹ năng nói trong quá trình học tập môn văn lớp 10 ở trường THPT. - Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn của giải pháp nâng cao kỹ năng nói cho học sinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận về kỹ năng nói và vai trò của kỹ năng nói - Nghiên cứu thực trạng kỹ năng nói của học sinh lớp 10 ở trường THPT. - Nghiên cứu các giải pháp hình thành kỹ năng nói cho học sinh lớp 10 ở Trường THPT. - Đánh giá kết quả nghiên cứu dựa trên kết quả học tập của học sinh. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Kỹ năng nói của học sinh trong các tiết đọc văn - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 10 Trường THPT.
Phương pháp nghiên cứu 5. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết - Nghiên cứu các tài liệu có liên quan kỹ năng nói; các tài liệu liên quan đến dạy học văn bản, các biện pháp và hình thức dạy học theo hướng phát triển kỹ năng nói cho học sinh. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra, khảo sát: Xây dựng phiếu điều tra lấy ý kiến của giáo viên, học sinh về thực trạng rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh lớp 10 trong giờ đọc văn. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Xây dựng các biện pháp nâng cao kỹ năng nói cho học sinh trong giờ đọc văn lớp 10, tiến hành dạy thực nghiệm và rút ra kết luận kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài.
- Phương pháp thu thập và xử lí số liệu. Tính mới của đề tài Đề tài hướng đến việc xác định tầm quan trọng của việc phát triển và nâng cao kỹ năng nói cho học sinh trong dạy học Ngữ văn. Trong những năm gần đây, giáo viên đã chú trọng tổ chức một số biện pháp dạy học hướng đến phát triển kỹ năng nói cho học sinh nhưng đa số đều áp dụng ở một số tiết Làm văn, Tiếng Việt 2 skkn đặc thù luyện nói như Trình bày một vấn đề, Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn. Mặt khác, các biện pháp được áp dụng vào các tiết đọc văn còn mang tính riêng lẻ, chưa có sự kết nối hệ thống nên khả năng phát triển kỹ năng nói cho học sinh chưa cao và kết quả chưa rõ ràng.
Từ thực tế đó, đề tài lần đầu tiên đã đưa ra được một số biện pháp cụ thể góp phần nâng cao kỹ năng nói cho học sinh lớp 10 trong các giờ đọc văn. Ở đề tài này, tôi đã cụ thể hoá bằng những giải pháp dựa trên thực tiễn của quá trình dạy học có minh họa cụ thể, dễ áp dụng. Từ đó góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp của học sinh, đảm bảo mục tiêu giáo dục đề ra, đáp ứng nhu cầu của thời đại. 3 skkn PHẦN NỘI DUNG I.
CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Ngôn ngữ nói Theo Phạm Minh Hạc và Nguyễn Quang Uẩn trong cuốn “Tâm lí học đại cương”: Ngôn ngữ là một quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ ngữ ngôn để giao tiếp, truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội - lịch sử, hoặc để kế hoạch hóa hoạt động của mình. Ngôn ngữ của mỗi cá nhân phát triển cùng với năng lực nhận thức và mang dấu ấn của những đặc điểm tâm lí riêng của cá nhân đó. Song, ngôn ngữ của mỗi cá nhân không chỉ phản ánh nghĩa của các từ mà còn cả thái độ của bản thân với đối tượng của ngôn ngữ và với người đang giao tiếp.
Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ hướng vào người khác là chủ yếu, biểu hiện bằng âm thanh và được tiếp thu bằng cơ quan phân tích thính giác. Chúng ta có thể “nói” có nghĩa là trò chuyện hoặc thể hiện suy nghĩ và cảm xúc của một người bằng ngôn ngữ nói. Để nói thường ngụ ý truyền đạt thông tin. Nó có thể từ một nhận xét không chính thức đến một bài trình bày học thuật đến một địa chỉ chính thức.
Ngôn ngữ nói là hình thức cổ sơ nhất của lịch sử loài người. Trong sự phát sinh cá thể, ngôn ngữ nói cũng có trước. Ngôn ngữ nói có hai loại: - Ngôn ngữ đối thoại: Là loại ngôn ngữ giữa hai hay một số người với nhau. Loại ngôn ngữ này có những đặc điểm tâm lí riêng.
Trong quá trình đối thoại có sự thay đổi vị trí và vai trò của mỗi bên. Chính sự thay đổi này có tác dụng hỗ trợ, giúp cho hai bên dễ hiểu nhau hơn. Ngoài tiếng nói ra còn có phương tiện hỗ trợ cho ngôn ngữ như: cử chỉ, điệu bộ, nét mặt. Do đó, người nói có thể trực tiếp thấy được phản ứng của người nghe, từ đó có thể điều chỉnh lời nói của mình cho phù hợp.
- Ngôn ngữ độc thoại: Là loại ngôn ngữ mà trong đó, một người nói và những người khác nghe. Đó là loại ngôn ngữ liên tục, một chiều mà không có sự hỗ trợ ngược trở lại. Người nói cần có sự chuẩn bị trước về nội dung hình thức và kết cấu của những điều định nói, đôi khi phải tìm hiểu trước về đối tượng (đối tượng người nghe). Ngôn ngữ cần trong sáng, dễ hiểu, chính xác.
Ngôn ngữ nói độc thoại có thể tạo những căng thẳng nhất định cho cả người nói và người nghe, vì người nói cần chuẩn bị trước, theo dõi ngôn ngữ của chính mình và phản ứng của người nghe, còn người nghe cần tập trung chú ý trong một thời gian dài. Kỹ năng nói Hiện nay có nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về “kỹ năng” nhưng nhìn chung chúng đều có sự thống nhất ở một số đặc điểm sau: - Kỹ năng được biểu hiện trong hành động và hoạt động của cá nhân thông qua hệ thống các thao tác cụ thể. Dấu hiệu này thể hiện mặt bên ngoài của kỹ năng, đảm bảo cho kỹ năng mang tính kỷ thuật. 4 skkn - Để có được kỹ năng, con người cần vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào trong hành động, hoạt động sao cho phù hợp với điều kiện của hoạt động ấy.
Dấu hiệu này thể hiện mặt bên trong của kỹ năng, cho thấy kỹ năng không chỉ thuần túy là kỷ thuật hành động mà còn là sự hiểu biết: biết về đối tượng và biết cách vận dụng để tác động vào đối tượng. - Nếu cá nhân vận dụng những yếu tố trên một cách tùy tiện thì hành động/hoạt động hoặc không đạt kết quả, hoặc kết quả chỉ mang tính ngẫu nhiên.