CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DƯNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỘC PHỔ THÔNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VAN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 1. Khái niệm về biện pháp: Theo Tự điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành.
Khái niệm về quản lý: a. Khái nỉệm chung: - Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên và phát triển theo. Mác viết : "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mìnhyCÒn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng".(1, 180 ) Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn.
Đó chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra. - Có nhiều khái niệm về quản lý theo các quan điểm khác nhau: + Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiếu nào đó. + Theo quan điểm kinh tế, P.Taylor ( 1856-1915 )-người theo trường phái quản lý theo kiểu khoa học : " Quản lý là cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy 14 Luan van móc và quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thê nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất. Theo Henry Fayol (1841-1925) - nhà kinh tế học và chỉ đạo thực tiễn, trong quyển " Quản lý chung và quản lý công nghiệp" : Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra.
Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức của chủ thể quản lý lên những người lao động để sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng, cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra theo đúng luật định hiện hành. Như vậy, theo quan điểm kinh tế, quản lý luôn chú ý đến sự vận hành, hiệu quả kinh tế, phát triển sản xuất và sự tác động qua lại giữa các lực lượng sản xuất. + Theo quan điểm chính trị xã hội : "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng." ( 21,7 ) + Theo quan điểm hệ thống, thế giới quan Mác - LêNin cho rằng: toàn thể thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể, một hệ thống.Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vậy, tức cũng là một hệ thống.
Theo quan điểm nay thì quản lý một đơn vị với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động. "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường" ( 31,43 ) Một vài khái niệm thường đề cập : - Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc tốt và rẻ. 15 Luan van - Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức, nhóm để đạt được mục tiêu. - Quản lý là quá trình cùng làm việc của các cá nhân để hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, nhóm.
- Quản lý là một nghệ thuật đạt mục tiêu đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, chỉ huy hoạt động của người khác. - Qua những định nghĩa trên, ta có thể hiểu : Quản lý là sự tác động có tổ chức,có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý phù hợp với yêu cầu khách quan. - Quản lý gồm hai thành phần : Chủ thể quản lý và khách thể quản lý. + Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên.
+ Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật thể cụ thể như : đoàn xe, môi trường, thiên nhiên ., vừa có thể la sự việc: luật lệ, quy chế, quy phạm kỹ thuật. Cũng có khi khách thể là người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn. - Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau. "Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý "(21,7) - Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động nhằm đạt mục tiêu.
Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động. Xét dưới góc độ điều khiển học , hành động quản lý chính là quá trình điều khiển, sắp xếp tác động làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái từ lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà quản lý. - Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý (đặc biệt là con người) thì phải có cơ chế quản lý đúng. 16 Luan van Cơ chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được diễn ra, quan hệ tương tác giữa chủ thể và khách thể quản lý được thực hiện (vận hành và phát triển).
- Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều kiện , phương tiện quản lý. Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân cách của nhà quản lý (phẩm chất, năng lực). Hiệu quả quản lý là sản phẩm kép, nghĩa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển và phẩm chất năng lực của nhà quản lý cũng phát triển. Hoạt động quản lý có thể được sơ đồ hóa như sau : b.
Bản chất của hoạt động quản lý và các chức năng quản lý: * Bản chất của hoạt động quản lý: - Từ khi con người biết hợp tác với nhau để tự vệ và mưu sinh cuộc sống thì nó xuất hiện những yếu tố khách quan, những họat động tổ chức, phối hợp, điều hành .để thực hiện mục tiêu, tạo nên sức mạnh giúp cho con người đạt được những mục tiêu cần thiết. Như vậy, trong quá trình vận động, phát triển của xã hội và quản lý không thể tách rời nhau, khi lao động đạt 17 Luan van tới một trình độ nhất định, có sự phân công xã hội thì quản lý như là một chức năng, đó là tất yếu khách quan. - Trong một tổ chức nhóm, cộng đồng, chủ thể quản lý tác động có định hướng, có chủ đích đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục đích. Những tác động qua lại đó có tác động lan tỏa rộng rãi.
Trong xã hội có giai cấp thì hoạt động quản lý phục vụ quyền lợi của giai cấp, do vậy hoạt động quản lý mang tính giai cấp rõ rệt. - Hoạt động quản lý mang tính khoa học cao, bởi sự tác động giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua công cụ, phương tiện, phương pháp phù hợp với quy luật khách quan thì mới đạt được hiệu quả. - Quản lý được coi là một nghề. Những kỹ năng nghề nghiệp của người quản lý để thực hiện công việc đòi hỏi mang tính kỹ thuật, thể hiện ở những thao tác nghề nghiệp của người quản lý.
- Hoạt động quản lý vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật. Tính nghệ thuật của hoạt động quản lý thể hiện những tác động hợp quy luật, hoàn cảnh. Vậy, "hoạt động quản lý vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan vì được thực hiện bởi người quản lý. Mặt khác, nó vừa có tính giai cấp lại vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật Nhà nước lại vừa có tính xã hội rộng rãi .Chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất.
Đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lý". (29;62) * Các chức năng quản lý : - Henry Fayol coi "Chức năng quản lý là nhóm hoạt động phải hoàn thành để quản lý”. "Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hóa việc quản lý” (21;64) - Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá trình quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. 18 Luan van Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý.
Chức năng quản lý được qui định một cách khách quan bởi hoạt động của khách thể quản lý. - Có nhiều cách phân loại các chức năng quản lý. + Henry Fayon đã đưa ra 5 chức năng sau đây mà người ta gọi là 5 yếu tố của Fayon :kế hoạch hóa, tổ chức, ra lệnh, phối hợp, kiểm tra và đánh giá. +Trong quyển "Cơ sở của khoa học quản lý" của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản năm 1997, có nêu các chức năng cơ bản của quản lý gồm:.
Điều chỉnh, kích thích. Kiểm tra, hạch toán.