Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1. Tổng quan các nghiên cứu vấn đề Phát triển VH là nhiệm vụ quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới bởi VH giúp cho quốc gia phát triển hiệu quả và bền vững. Đối với nhà trường, VH tồn tại và gắn bó bao gồm hệ thống những giá trị, chuẩn mực, truyền thống hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển nhà trường, được các thành viên thừa nhận và tiếp nối theo thể hiện thông qua hình thái tinh thần và vật chất, tạo nên bản sắc riêng biệt của mỗi nhà trường. Quản lý hoạt động xây dựng VHNT là tiến hành nâng cao các hoạt động giảng dạy, giáo dục; xây dựng VH ứng xử văn minh, lịch sự, thân thiện trong nhà trường; đầu tư cơ sở vật chất của nhà trường hiện đại, tiện dụng, đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm, không gian và cảnh quan sạch đẹp.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quản lý hoạt động xây dựng VH của các trường phổ thông thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế, với những cấp độ và cách tiếp cận khác nhau. Nghiên cứu về văn hóa nhà trường Trên thế giới Theo Deal, Terrence E (2009) [74], Schein (2004) [8181], Purkey và Smith (1982) [78], Terrence E. Deal và Kent D. Peterson (2002) [86] thuật ngữ văn VHNT và cấu trúc VHNT được hiểu “là một dòng chảy ngầm của những chuẩn mực, giá trị, niềm tin, truyền thống và nghi lễ được hình thành theo thời gian do con người làm việc cùng nhau, giải quyết các vấn đề và đổi mặt với các thách thức.
được định hình trong cảm xúc, hành động, suy nghĩ của con người ở nhà trường. tạo cho nhà trường sự khác biệt". Nói đến VHNT là nói đến bầu không khí học tập và giảng dạy, nói đến phong cách giao tiếp giữa GV/giảng viên với GV/giảng viên, giữa GV/giảng viên với học viên/sinh viên/ HS; giữa lãnh đạo nhà trường, GV với PHHS; giữa cán bộ QL với GV/giảng viên, nhân viên; là mối quan hệ giữa nhà trường với các cơ quan đoàn thể, tổ chức khác. ` 12 - Biểu hiện của văn hoá nhà trường: Tổng hợp nghiên cứu của các tác giả Peterson, Deal, Schein, Purkey và Smith; Barbara Fralinger;…về các biểu hiện củaVHNT, có thể thấy VHNT được biểu hiện cụ thể thành các tầng bậc, với nhiều yếu tố cấu thành, trong quá trình vận động.
Muốn xây dựng VHNT thì chủ thể QL cần phải tìm ra các giải pháp QL phù hợp để tác động tới 3 yếu tố này. Theo tác giả Purkey và Smith (1982), VHNT như một kết cấu, một quá trình và một không gian của các giá trị và chuẩn mực có khả năng dẫn các thành viên (các GV, HS và cán bộ nhân viên) theo hướng dạy và học chất lượng [78]. - Vai trò của văn hóa nhà trường: Trong nghiên cứu của Peterson (2002) cho rằng “Một nhà trường có văn hóa tích cực thì các thành viên luôn có sự kết nối, ý thức được chia sẻ rộng rãi về sự tôn trọng, đoàn kết và chăm sóc cho mọi người trong tổ chức với nhau [77]. Khi nói đến nhà trường hiệu quả Snowden và Gorton (1998) đã nhấn mạnh đến các yếu tố liên quan đến đó là nỗ lực học tập và thành tích, sự tin tưởng đến tất cả học sinh; sự phát triển và nỗ lực đổi mới của đội ngũ nhân sự; môi trường học tập luôn an toàn và kỷ luật; tổ chức có văn hóa tích cực.
5 yếu tố này tạo nên một nhà trường hiệu quả trong đó các thành viên đều phấn đấu, nỗ lực hết mình để hướng tới mục tiêu chung [85]. - Chức năng của VHNT: Các nghiên cứu khi bàn về chức năng của văn hóa nhà trường đều thống nhất chung một quan điểm đó là văn hóa chính là một tài sản vừa hữu hình vừa vô hình. Trong đó nghiên cứu của Hampden, Turner (1990), thì quan niệm rằng: Văn hóa là một tổ chức quy định ra hành vi, mối quan hệ và thúc đẩy mỗi cá nhân phát triển, đưa ra những giải pháp của vấn đề chưa có cách làm hoặc chưa được giải quyết. Nó chi phối cách thức nhà trường sở hữu thông tin, những mối quan hệ nội bộ và những giá trị.Như vậy, rõ ràng rằng, VHNT có ảnh hưởng sâu rộng đến tập thể nhà trường và từng cá nhân trong nhà trường [69].
Nhiều nhà nghiên cứu như Schein đã khẳng định, VHNT có các chức năng cơ bản đó là: giảm xung đột; phối hợp kiểm soát; giảm sự không chắc chắn; động cơ; lợi thế cạnh tranh [83]. Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới cho thấy: vấn đề văn hoá, xây dựng VHNT nói chung đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, hướng nghiên cứu về VHNT và xây dựng, phát triển VHNT được các tác giả trên thế giới nghiên cứu khá sâu theo các khía cạnh: khái niệm, cấu trúc, vai trò, biểu hiện, các ` 13 bước xây dựng và biện pháp xây dựng VHNT, các yếu tố ảnh hưởng đến VHNT nói chung và văn hoá trường đại học nói riêng. Về bản chất thì VHNT bao gồm những mối quan hệ bên trong và bên ngoài nhà trường, gồm các giá trị vật chất và giá trị tinh thần, các đặc trưng tạo nên uy tín, thương hiệu và hình ảnh của nhà trường đó. Ở Việt Nam - Về quan niệm văn hóa nhà trường: VHNT là một dạng của VH tổ chức, mỗi nhà trường được coi là một tổ chức hành chính - sư phạm có nền VH riêng.
Ở Việt Nam, khái niệm VHNT hay VH học đường trong thời gian gần đây được xuất hiện khá nhiều trên những tài liệu, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, có thể kể đến quan điểm của tác giả Phạm Ngọc Trung trong tác phẩm“Văn hóa và phát triển từ lý luận đến thực tiễn”, cho rằng: “Văn hoá học đường là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành và tích luỹ trong lịch sử bao gồm những suy nghĩ, quan niệm thói quen, tập quán, tư tưởng, luật pháp,. nhằm thiết lập mối quan hệ giữa thầy, trò và các thành viên có liên quan để việc dạy và học đạt kết quả cao” [55]. - Về vai trò văn hóa nhà trường: Cuốn sách “Quản lý văn hóa nhà trường”, do tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Vũ Bích Hiền làm chủ biên đã khái quát được các vấn đề lý luận cơ bản của VHNT và quản lý VHNT. Tác giả bước đầu tìm hiểu và đưa ra những đặc trưng cơ bản của VHNT Việt Nam nói chung và VHNT đại học nói riêng [32] - Về thành tố của văn hóa nhà trường: Bàn về các thành tố của VHNT, trong cuốn sách“Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới” tác giả Phạm Minh Hạc (1994) cho rằng VHNT bao gồm chủ thể là giảng viên, sinh viên, cán bộ công nhân viên; khách thể là hệ thống các giá trị VH, các hình thức vận động VH, cảnh quan VH [12].
Phạm Thị Minh Hạnh (2009), trong“Văn hoá học đường: quan niệm, vai trò, bản chất và một số yếu tố cơ bản” đã phân tích bản chất của VH học đường là hình thành một môi trường GD mà mỗi thành viên có điều kiện phát triển tốt nhất. Các yếu tố cấu thành VHNT gồm: kế hoạch, chiến lược phát triển của nhà trường (tầm nhìn, sứ mệnh, hệ thống giá trị, mục tiêu, định hướng phát triển); Hoạt động QL nhà trường, ảnh hưởng của các cấp lãnh đạo đến các thành viên; Các chính sách khuyên khích các hoạt động của nhà trường; Bầu không khí tâm lý, cách thức ` 14 ứng xử trong nhà trường; Khung cảnh của nhà trường; Xây dựng thương hiệu của nhà trường…[22] - Về biểu hiện văn hóa nhà trường: Theo tác giả Thái Duy Tuyên, VHNT trong một số trường cụ thể biểu hiện qua các khía cạnh cụ thể sau: Hệ thống giá trị, niềm tin, hoài bão, lý tưởng mà thầy trò ấp ủ và thử hiện. Tác giả đã phân tích tư tưởng về VH trường học của Hồ Chí Minh, nêu ra 12 vấn đề để xây dựng VH trường học: (1) Xác định vị trí, vai trò của GD; (2) Tính chất của GD; (3) Mục đích hệ thống GD; (4) Nguyên lý GD; (5) QL GD; (6) Mục đích nhân cách (mô hình nhân cách mà nền GD cần hướng tới); (7) Động cơ học tập; (8) Nội dung GD, học tập; (9) Phương pháp GD, học tập; (10) Hình thức tổ chức dạy học; (11) Đội ngũ GV; (12) Tập thể HS [58]. Trong nghiên cứu của Trần Quốc Thành (2009) với Bài báo“Các biểu hiện của văn hoá học đường ở trường phổ thông” đã nêu rõ biểu hiện của VH học đường gồm phần nổi và phần chìm, trong đó phần nổi là định hướng phát triển, mục tiêu và các giá trị của nhà trường theo đuổi, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; phần chìm là bầu không khí, thương hiệu và các giá trị của nhà trường được thừa nhận.
- Về xây dựng văn hóa nhà trường: Bài báo“Quan hệ người - người: Giá trị quan trọng nhất trong nhân cách” [13] và“Giáo dục giá trị xây dựng văn hoá học đường” [14], làm rõ văn hoá nhà trường với ba nội dung cơ bản, đó là: 1/Mục đích của VH học đường phải bảo đảm về cơ sở vật chất, trường ra trường, lớp ra lớp. Trường học phải đủ trang thiết bị dạy và học, HS đủ sách, vở, đồ dùng học tập, đội ngũ cán bộ, GV chuẩn về trình độ và đạo đức, tác phong; 2/Cần xây dựng môi trường GD trong nhà trường, trong ký túc xá hay nhà trọ, ở gia đình, nơi công cộng; hưởng ứng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” của Bộ GD & ĐT; 3/Xây dựng VH ứng xử, VH giao tiếp trong nhà trường, ở gia đình, ngoài xã hội. Nhìn chung các tác giả, các nhà khoa học dù các cách, các góc độ tiếp cận khác nhau nhưng đều thống nhất: (i) Một là, VHNT liên quan đến toàn bộ hoạt động vật chất, tinh thần của một nhà trường; (ii) Hai là, VHNT biểu hiện ở phần nổi (tầm nhìn, sứ mạng, triết lý GD, mục tiêu, khung cảnh, logo, khẩu hiệu, đồng phục, nghi thức, hoạt động VH,…) và phần chìm (nhu cầu, cảm xúc, các giá trị, thương hiệu, ` 15 phong cách lãnh đạo, QL, bầu không khí tâm lý….); (iii) Ba là, nó thể hiện thành hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử.