CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trên thế giới KĐCLGD là một trong những mô hình nhằm đảm bảo chất lượng, đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời ở các nước phương Tây. Đặc biệt là ở Hoa Kỳ, có rất nhiều nghiên cứu đề cập về nhiều khía cạnh khác nhau của KĐCLGD.
Nhóm các tác giả Janet Fairman, Brenda Peirce và Walter Harris (2009) với công trình “Kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Maine: Nhận thức về chi phí và lợi phí” (High school accreditation in Maine: Perception of cost and benefits) thuộc trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá giáo dục và Phát triển con người thuộc Đại học Maine – Mỹ. Với công trình này, nhóm tác giả đã trình bày rất rõ quy trình KĐCLGD trường THPT tại Mỹ, gồm TĐG, đánh giá ngoài theo bộ tiêu chuẩn và công nhận kiểm định chất lượng. Công trình đã rút ra những kinh nghiệm thực tiễn rất giá trị trong quá trình KĐCLGD trường THPT và đề ra các giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động KĐCLGD trường THPT [37]. Elain El Khawas (2001) - Kiểm định chất lượng ở Mỹ: Nguồn gốc, sự diễn biến và triển vọng cho tương lai (Accreditation in the USA: Origin, developments and future prospect).
Nghiên cứu đã nêu ra được một cách rõ ràng và chi tiết tiến trình kiểm định bắt đầu từ định nghĩa về kiểm định chất lượng, các hình thức kiểm định như kiểm định cơ sở đào tạo, kiểm định chương trình đào tạo, sự phát triển của hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục của Mỹ trong những năm gần đây, cách thức tiến hành quá trình kiểm định bao gồm thực hiện báo cáo tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận mức độ đáp ứng của nhà trường hay chương trình đào tạo theo Luan van 8 tiêu chuẩn. Đặc biệt, công trình đã nêu lên được những cơ hội và thách thức cho lĩnh vực KĐCLGD, những tác động của kiểm định chất lượng đến việc nâng cao chất lượng của nhà trường, cũng như rút ra được những bài học cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, nội dung công trình phần lớn nói về KĐCLGD đại học, chỉ phân tích một phần nhỏ về kiểm định chất lượng trường phổ thông [35]. Các nghiên cứu ở trong nước So với các nước trong khu vực và thế giới, KĐCLGD ở Việt Nam còn khá non trẻ, chỉ được triển khai từ những năm đầu thế kỷ XXI.
Quản lý đảm bảo chất lượng ở các cơ sở giáo dục phổ thông chỉ thực sự bắt đầu từ sau khi cục Khảo thí và KĐCLGD được thành lập (năm 2003). Sau khi Cục Khảo thí và KĐCLGD ra mắt, công tác KĐCLGD phổ thông được đẩy mạnh với việc Phòng KĐCLGD mầm non, phổ thông và thường xuyên được thành lập. Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn các Sở GD&ĐT lập Phòng Khảo thí và Quản lý CLGD. Việc ra đời Phòng Khảo thí và Quản lý CLGD đã góp phần đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng ở các địa phương và ở các cơ sở giáo dục phổ thông.
Hệ thống văn bản để triển khai thực hiện các khâu trong quy trình KĐCLGD của các CSGD phổ thông đã hoàn thiện và hoạt động này đang được triển khai ở tất cả CSGD trong cả nước. Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà giáo và CBQL giáo dục trong nước về công tác KĐCLGD nói chung và công tác quản lý hoạt động KĐCLGD nói riêng. Trần Khánh Đức (2004) với công trình “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực” đã phân tích kiểm định chất lượng CSGD hay kiểm định chương trình giáo dục chỉ thực hiện được một cách có hiệu quả khi việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng trong nhà trường được giải quyết. Hơn nữa, một CSGD bất kỳ muốn hoạt động để đạt được mục tiêu hay vươn tới sứ mệnh của tổ chức mình thì phải thiết kế, vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng tại CSGD đó.
Tác giả cho rằng, KĐCLGD là một khâu trong quá trình quản lý chất lượng và chính kiểm định Luan van 9 chất lượng là phương pháp, là công cụ đề đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của tổ chức đó [11]. Lê Đức Ngọc (2009), “Tổng quan về kiểm định và đảm bảo CLGD phổ thông” đã cho rằng, kiểm định chất lượng là một giải pháp quản lý chất lượng và hiệu quả nhằm các mục tiêu sau đây: Đánh giá hiện trạng của CSGD đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra như thế nào? Hiện trạng CSGD có chất lượng và hiệu quả ra sao? Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với các tiêu chuẩn đề ra của CSGD. Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các tiêu chuẩn đề ra của CSGD. Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được so với các tiêu chuẩn đề ra, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển [28].
Qua phân tích tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về KĐCLGD và quản lý KĐCLGD cho thấy, các nghiên cứu đã có đề cập đến quy trình KĐCLGD bao gồm TĐG, đánh giá ngoài và công nhận mức chất lượng. Quy trình này là quy trình kỹ thuật cơ bản của KĐCLGD mà các quốc gia tiến hành làm KĐCLGD đều thực hiện. Tuy nhiên còn ít các nghiên cứu về KĐCLGD trường THPT. Đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đi sâu và phân tích đến việc quản lý hoạt động TĐG trong KĐCLGD trường THPT ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Do đó, tác giả nhận thấy rằng, việc lựa chọn vấn đề quản lý hoạt động TĐG trong KĐCLGD ở các trường THPT ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang là vấn đề cần thiết, cần được nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động TĐG trong KĐCLGD. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động rất cần thiết trong tất cả các lĩnh vực của đời sống con người.
Khái niệm quản lý là khái niệm rất chung và tổng quát, tùy theo cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau. Luan van 10 Tác giả T. Taylor cho rằng, “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [9, tr. Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thể Ngữ, “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu.
Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [13, tr. Cũng vấn đề này, tác giả Trần Kiểm cho rằng, "Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17, tr. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí quan niệm, "Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức" [24, tr.
Tác giả Bùi Minh Hiền cho rằng, “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [14, tr. Và đây cũng là khái niệm về quản lý mà tác giả chọn để làm lý luận cho luận văn “Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích đề ra”. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng trong xã hội, tồn tại từ khi xuất hiện xã hội loài người. Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ trước cho thế hệ sau và để thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho bản thân con người và xã hội phát triển hơn.
Để đạt được mục đích đó, quản lý được coi là nhân tố tổ chức chỉ đạo Luan van 11 thực thi cơ chế nói trên. Giống như khái niệm “quản lý”, khái niệm “quản lý giáo dục” (QLGD) cùng có nhiều quan niệm khác nhau. Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm mình, tức là đưa nhà trường vận hành lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [12, tr. Theo Đặng Quốc Bảo, "QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát thiển xã hội" [1, tr.
Theo Nguyễn Cảnh Hồ, với cách tiếp cận hệ thống cho rằng quản lý giáo dục tức hoạt động quản lý có đối tượng, đối tượng đấy chính là hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm toàn bộ các trường học, các cơ sở giáo dục đào tạo trong cả nước, với các phần tử cơ bản là giáo viên và học sinh. Hệ thống giáo dục được biểu hiện ở chất và lượng ở các yếu tố: giáo viên và học sinh; chương trình giáo dục; phương pháp và phương tiện dạy học; cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ dạy học; cơ sở vật chất phục vụ đời sống, sinh hoạt; …sản phẩm của hệ thống giáo dục là học sinh. Sự hoạt động của hệ thống giáo dục phải nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Quản lý giáo dục là quản lý toàn bộ hệ thống cơ sở giáo dục trong trong tổng thể hệ thống giáo dục quốc gia nhằm đạt được mục tiêu đề ra [15].
Tác giả Nguyễn Kỳ, Bùi Trọng Tuân cho rằng “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [19, tr.