Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON THUỘC ĐỊA BÀN MIỀN NÚI 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Xuất phát từ tầm quan trọng của chương trình giáo dục và phát triển chương trình giáo dục đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục, trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. - Nghiên cứu về chương trình giáo dục: Từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, trường học trong nền văn minh Tây Âu với sự ảnh hưởng tư tưởng triết học của Platon và Aristotle, từ chương trình giáo dục được sử dụng để miêu tả các môn học được giảng dạy cho người học.
Tim Wentling (1993) cho rằng: “Chương trình giáo dục là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo. Hoạt động đó có thể chỉ là một khoá học trong thời gian vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm. Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể kỳ vọng ở người học sau khi kết thúc khoá học, phác hoạ qui trình thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập và toàn bộ các vấn đề của bản thiết kế này được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” [dẫn theo 19]. Một số chuyên gia giáo dục khác nhìn nhận chương trình giáo dục với một cách tổng thể từ góc độ người quản lý, người thiết kế, thực hiện chương trình, và chính vì vậy họ quan tâm nhiều hơn đến mục đích, mục tiêu, các phương pháp thực hiện để đạt được mục đích, mục tiêu đó.
Tác giả White (1995) cho rằng: Chương trình giáo dục là một kế hoạch đào tạo phản ánh các mục tiêu giáo dục, đào tạo mà nhà trường theo đuổi. Bản kế hoạch đó cho biết nội dung và phương pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra [dẫn theo 36]. 6 Có cùng quan điểm về chương trình giáo dục, Raph Tyler cho rằng chương trình giáo dục phải bao gồm 4 yếu tố: 1) Mục tiêu đào tạo; 2) Nội dung đào tạo; 3) Phương pháp hay qui trình đào tạo; 4) Đánh giá kết quả đào tạo. Tác giả Kelly cho rằng chương trình giáo dục nhà trường cũng cần có 4 yếu tố cấu thành: 1) Ý định của người xây dựng chương trình; 2) Qui trình thực hiện ý định đó; 3) Kinh nghiệm, kiến thức mà người dạy cung cấp cho người học trong khi thực hiện ý định của người thiết kế chương trình; 4) Một sản phẩm phụ của chương trình giáo dục được thể hiện qua khả năng học tập “ẩn” của người học [dẫn theo 17].
Hilda Taba (1962) cho rằng chương trình giáo dục là một bản kế hoạch học tập. Các yếu tố của phát triển chương trình giáo dục gồm 4 yếu tố: 1) Tuyên bố mục đích và mục tiêu cụ thể; 2) Lựa chọn và cấu trúc nội dung chương trình giáo dục; 3) Các chiến lược giảng dạy, cách học phù hợp; và 4) Hệ thống đánh giá kết quả học tập [40]. Trong Từ điển giáo dục của Carter V. Oliver cho rằng chương trình giáo dục bao gồm 4 yếu tố cơ bản: các môn học; các hoạt động, kinh nghiệm học tập; các dịch vụ; và các hoạt động “ẩn”.
Các môn học, hoạt động, kinh nghiệm học và các dịch vụ là những phần hiển nhiên của chương trình, còn khái niệm các hoạt động “ẩn” có thể là những giá trị văn hoá tổ chức của nhà trường, xã hội,. Chương trình giáo được nhìn nhận với góc độ qui mô rộng hơn, nhấn mạnh đến sự phát triển kỹ năng và các giá trị khác mà người học đạt được trong trường học. Điều này được thể hiện qua quan điểm của tác giả Ronald C. - Nghiên cứu về phát triển chương trình giáo dục Các công trình nghiên cứu về phát triển chương trình giáo dục bao gồm các báo cáo tổng kết đề tài khoa học, bài báo, sách chuyên khảo, các bài phê bình, các văn bản pháp qui về chính sách giáo dục nói chung và về phát triển chương trình giáo dục nói riêng.
Các công trình này xuất hiện chủ yếu từ 1974 đến nay. Phần lớn các công trình đến từ Ôxtrâylia, chỉ riêng trong Australian Education Index đã có 350 bài viết (trong đó có 29 luận án tiến sĩ) về phát triển chương trình 7 giáo dục. Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu đến từ Hoa kì, Canada, Vương quốc Anh, Israel. Cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 ở New Zealand cũng xuất hiện một số chuyên khảo, báo cáo tổng kết đề tài khoa học, bài báo về phát triển chương giáo dục (Ramsey et al., 1995; Ramsey, Hawk, Harold, Mariot và Posskin.
Ở những nước nói tiếng Anh nêu trên trong những năm 1970 - 1980, phát triển chương trình giáo dục được xem như đã đạt đỉnh cao nhất của nó. Đến giữa những năm 90 của thế kỉ 20 thuật ngữ này gần như biến mất trong các công trình nghiên cứu về giáo dục. Nguyên nhân thứ nhất có thể là trong giai đoạn này nhiều nước bắt đầu các cuộc cải cách giáo dục một cách mạnh mẽ. Nguyên nhân thứ hai là do có sự dịch chuyển trong việc sử dụng thuật ngữ để mô tả các nguyên tắc và quá trình phát triển chương trình giáo dục.
Ở New Zealand, các công trình về phát triển chương trình giáo dục ít hơn, bao gồm một vài chuyên khảo, bài báo, báo cáo tổng kết đề tài khoa học… nhờ có 2 dự án lớn về phát triển chương trình nhà trường cuối những năm 80 đầu những năm 90 (Ramsey và cộng sự 1995. Ramseyc, Hawk, Harold, Marriot và Posskit, 1993). 10 năm gần đây số công trình viết về phát triển chương trình giáo dục tăng không đáng kể. Tuy nhiên từ năm 2000 nhiều công trình được thấy ở Hong Kong, Trung quốc, Nhật, Đài Loan.
Tài liệu “Curriculum development - A Guide to Practice” của Jon Wiles và Joseph Bondi [42] được Nguyễn Kim Dung dịch sang Tiếng Việt do Nxb Giáo dục ấn hành năm 2005. Tài liệu “Curriculum development - A Guide to Practice” được trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá cao vì nó được xem là một trong những sách tham khảo hàng đầu trên thế giới về chương trình học. Tác giả tập trung nghiên cứu về chương trình học trong kỷ nguyên công nghệ cùng xu thế mới của hoạt động xây dựng chương trình học, trong đó các công nghệ dạy học mới đã tác động mạnh mẽ đến nhà trường, thách thức những nhà trường truyền thống. Do đó, các nhà trường phải phái thay đổi, điều đó cũng có nghĩa là các nhà xây dựng chương trình học, các nhà quản lý giáo dục cũng phải đặt nhà trường trước những thử thách của đổi mới; Vai trò của các triết lí trong các chương trình học: Tác giả đưa ra năm triết lý, bao gồm triết lý vĩnh cửu, triết lý duy tâm, triết lý hiện thực, triết lý thực nghiệm, triết lý hiện sinh.
Các triết lý giáo dục đóng vai trò trung tâm của các hoạt động có mục đích của phát triển chương trình. Các triết lý đóng vai trò như bức màn lọc cho việc đưa ra những quyết định. Tuy nhiên, dù có theo triết lý nào đi nữa, sự nhất quán trong thiết kế là chìa khóa cho mức độ hiệu quả của chương trình học,… 8 “Developing the curriculum” của Peter F. Oliva cũng được Nguyễn Kim Dung dịch sang Tiếng Việt.
Tác giả đã minh họa những cách thức mà những nhà làm chương trình học xúc tiến quá trình phát triển chương trình học, đồng thời đã nêu khá chi tiết những vấn đề liên quan tới việc phát triển chương trình học, lý thuyết về phát triển chương trình, cũng như các thành tố của quá trình giảng dạy. Tuy nhiên, những vấn đề tác giả đề cập phần lớn phản ánh những gì diễn ra ở nền giáo dục Mỹ chứ không phải ở Việt Nam [41]. Công trình “Chương trình: Những cơ sở, nguyên tắc và chính sách xây dựng” của Allan C. Ornstein và Francis P.
Qua các tài liệu, công trình nghiên cứu về chương trình giáo dục và phát triển chương trình mà tác giả đã biết và tham khảo, tác giả nhận thấy các tài liệu đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về chương trình, nghiên cứu chuyên sâu về năng lực, mô hình phát triển chương trình, kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình giáo dục. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu phát triển và quản lý phát triển chương trình giáo dục cho mầm non một cách có hệ thống và có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện những phẩm chất, năng lực của trẻ mầm non và chuẩn bị bước vào giai đoạn giáo dục kiến thức nền tảng cơ bản trước khi vào bậc tiểu học. Những nghiên cứu ở trong nước Từ vai trò của nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chương trình giáo dục và phát triển chương trình giáo dục, tại Việt Nam đã có một số công trình tiêu biểu như sau: Công trình nghiên cứu của Bùi Đức Thiệp về “Chương trình và phương pháp luận phát triển chương trình” đã đề cập tới những nội dung lý luận nền tảng như bản chất và nguồn gốc của chương trình, những nhân tố chế ước tới chương trình. Tuy nhiên, nội dung của tài liệu tập trung nhiều về lý luận phát triển chương trình, chưa dành làm rõ qui trình phát triển chương trình của một bậc học nào [35].
Tài liệu “Chương trình giáo dục” của Nguyễn Văn Khôi (ĐHSP Hà Nội) đã giới thiệu tóm tắt lí thuyết phát triển chương trình giáo dục, một số quan điểm, cách tiếp cận và phương pháp thường gặp trong phát triển chương trình giáo dục. Tác giả đã đưa ra những khái niệm hết sức cơ bản về chương trình giáo dục, chương trình đào tạo, khung chương trình, chương trình khung, chương trình chi tiết, đề cương môn học, chuẩn đầu ra, phát triển chương trình, cách thức tổ chức phát triển chương trình, 9 đánh giá chương trình giáo dục cũng như một số tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá khung giáo dục và giáo dục đại học cũng như đánh giá chương trình môn học, đánh giá giáo trình, sách giáo khoa môn học [31]. Tài liệu “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học” của tác giả Nguyễn Hữu Châu đã nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề này. Tài liệu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình dạy học trong thực thi chương trình [16].