Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Lịch sử đã chứng minh, trải quan mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã luôn đoàn kết trong đấu tranh cũng như trong lao động sản xuất. Là quốc gia có nhiều dân tộc (theo nghĩa hẹp) cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều có nét văn hóa riêng trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam. Văn hoá của dân tộc Việt Nam hiện nay gồm có văn hoá truyền thống và văn hóa hiện đại.
Văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam, giống như văn hoá truyền thống của các dân tộc khác, đều có một số yếu tích cực và một số yếu tố tiêu cực trước yêu cầu phát triển mới của xã hội hiện nay. Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên khi truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam đã kết hợp một cách đúng đắn, sáng tạo giữa tinh hóa phương Đông và phương Tây, giữa sức mạnh của dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã rất nhiều lần nhấn mạnh việc giáo dục, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Tư tưởng ấy được thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng như: Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam, Người đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hóa là: Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng.
Chủ trương trên thể hiện rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giá trị văn hóa dân tộc. Người cho rằng càng thấm nhuần Chủ nghĩa Mác - Lênin bao nhiêu thì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn càng phải coi trọng những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu. Người căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” [15, tr. Người đòi hỏi phải biết giữ gìn vốn văn hóa quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hóa dân tộc, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.
Người cho rằng: “Cái văn hoá mới này cần phải có tính khoa học, tính đại chúng, thì mới thuận với trào lưu tiến hoá của tư tưởng hiện đại. Nay nước ta đã được độc lập, tinh thần được giải phóng, cần phải có một nền văn hoá hợp với khoa học và hợp với cả nguyện vọng của nhân dân” [15, tr. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục các giá trị truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ Ngay từ những ngày đầu bôn ba cứu nước, Người đã lập ra tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng để giáo dục họ. Trước lúc đi xa, trong “Di chúc” thiêng liêng, Người còn ân cần căn dặn: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ.
Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” [8, tr. Theo Người, nội dung giáo dục cho thế hệ trẻ phải toàn diện, trong đó bao gồm một số nội dung chính như: Thứ nhất, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, trong số những vấn đề cần giáo dục cho thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu vấn đề giáo dục chủ nghĩa yêu nước: “Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn”; Thứ hai, giáo dục tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái; Thứ ba, khắc phục thói quen lạc hậu. Hồ Chí Minh rất chú trọng tới vai trò giáo dục của nhà trường, của ngành Giáo dục - Đào tạo.
Bởi vì, nhà trường là nơi thuận lợi nhất để giáo dục thế hệ trẻ trên mọi phương diện. Nhà trường là nơi tuổi trẻ tiếp thu những tri thức, những kinh nghiệm để chuẩn bị bước vào đời. Nhà trường là môi trường để thể hệ trẻ trau dồi đạo đức, ý chí, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn luyện rèn những phẩm chất cần thiết cho một tương lai tươi sáng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của nhà trường trong chế độ mới: "Cốt nhất là phải dạy học trò biết yêu nước, thương nòi, phải dạy cho họ ý chí tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ.
Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước (từ năm 1986), nhất là những năm gần đây có nhiều công trình, đề tài khoa học, hội thảo khoa học về lĩnh vực văn hóa đã được công bố và có liên quan đến đề tài này với nhiều góc độ khác nhau. Tác giả Trần Văn Giàu với “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” nói về những giá trị văn hóa tinh thần của người Việt Nam đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập và tự cường, lòng yêu thương độ lượng, sống có tình nghĩa, cần cù sáng tạo, tiết kiệm, tôn sư trọng đạo [10, tr.; tác giả Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang với “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” đã nghiên cứu về truyền thống và những cơ sở tạo nên truyền thống Việt Nam; cái chung và cái riêng trong truyền thống văn hóa của các cộng đồng dân cư Việt Nam [133, tr.3]; tác giả Trần Ngọc Thêm, với tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” nói về văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng (đời sống tập thể, đời sống cá nhân), văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, xã hội [24, tr.16]; “Cơ sở Văn hóa Việt Nam” đã cung cấp những kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng cho ngành văn hóa học. Tác phẩm “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của tác giả Phan Ngọc [199]; tác giả Trần Mạnh Thường có tác phẩm “Việt Nam văn hóa và Giáo dục” [255]. Với quan điểm Dân tộc học, tác Phan Hữu Dật có tác phẩm “Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam” [7]; tác giả Nguyễn Hồng Hà “Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo dục thế hệ trẻ” đã nêu ra những yêu cầu trong việc giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ là rất cần thiết [111]; bên cạnh đó cũng có nhiều bài viết về văn hóa và giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc trong nhà trường như tác giả Nguyên Sa “Lào Cai xây dựng và phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” [20, tr.10]; “Trường học đa văn hóa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn gắn với cộng đồng ở Lào Cai” của tác giả Trọng Bảo [2, tr.15]; tác giả Phạm Thị Thanh với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên” [222]; tác giả Vũ Thị The với đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục giá trị văn hóa, truyền thống địa phương cho HS trung học phổ thông vùng Tây Bắc thông qua các hoạt động trải nghiệm, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông [26, tr.
Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu đã đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó. Cũng có một số công trình nghiên cứu về việc giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho học sinh các trường phổ thông nói chung và bậc Trung học cơ sở nói riêng. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Các nhà khoa học quản lý đã đưa ra nhiều khái niệm về quản lý khác nhau như: Fayol “quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy”; F.W Taylor cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất.Koontz thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học”. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [4, tr. Các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý như: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo chỉ đạo và kiểm tra [4, tr.
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan [27, tr. Các tác giả Bùi Minh Hiền - Nguyễn Vũ Bích Hiền cho rằng “quản lý là hoạt động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [12, tr.