Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Việc nghiên cứu về vấn đề truyền dạy nghệ thuật Đờn ca tài tử ở góc độ quản lý văn hóa, theo thiển ý của ngƣời viết, rất cần có những định nghĩa về các khái niệm liên quan đến đề tài. Những khái niệm này là cơ sở để xác định nội dung nghiên cứu đề tài cho phù hợp. Dựa trên đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, ngƣời viết nêu ra một số khái niệm sau đây: 1. Các khái niệm liên quan đề tài 1.
Âm nhạc truyền thống Âm nhạc truyền thống là nhạc của ngƣời Việt Nam từ thời lập quốc đến hiện tại do chính ngƣời Việt sáng tác và lƣu giữ theo phƣơng pháp truyền khẩu. Âm nhạc truyền thống giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam. Đó là di sản vô cùng quí báu, tinh hoa sáng tạo nghệ thuật của cha ông, là cơ sở cho sự phát triển nền văn hóa âm nhạc của đất nƣớc. Nhạc thính phòng theo định nghĩa của ngƣời châu Âu là một thể loại nhạc gồm các bài hát hoặc bản đàn đƣợc biểu diễn trong phòng khách tại tƣ gia hay trong một gian phòng nhỏ.
Tại Việt Nam, từ xa xƣa đã xuất hiện các buổi ca và múa trong cung đình, đền miếu, hoặc hội họp tại tƣ thất các quan tƣớng. Chính hình thức ca múa này đã trở thành nền tảng cho âm nhạc thính phòng Việt Nam ngày nay. Theo các nhà nghiên cứu, các loại hình âm nhạc thính phòng dân gian đặc thù của ba miền đất nƣớc là Ca trù ở miền Bắc, Ca Huế ở miền Trung và Đờn ca tài tử Nam Bộ. Ca trù nghĩa là hát thẻ hay còn gọi là Hát ả đào.
Theo sách Việt Nam ca trù biên khảo: "Ở cửa đền ngày xưa có lệ hát Thẻ gọi là Trù, làm bằng tre 11 ghi chữ đánh dấu, dùng để thưởng cho ả đào thay tiền mặt. Khi hát, quan viên thị lễ chia ngồi hai bên, một bên đánh chiêng, một bên đánh trống" [17, tr. Ca trù là một bộ môn nghệ thuật trình diễn, có nét độc đáo là sự phối hợp đa dạng, tinh tế, nhuần nhuyễn giữa thi ca và âm nhạc, đôi khi có cả múa. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định ca trù là một bộ môn nghệ thuật lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng ca nhạc của ngƣời Việt Nam.
Ca trù gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngƣỡng, văn chƣơng, âm nhạc, tƣ tƣởng, triết lý sống của ngƣời Việt. Trải qua quá trình phát triển thăng trầm cùng với những biến cố của lịch sử, Ca trù đã đạt đến trình độ thẩm mỹ cao, khẳng định đƣợc vị trí quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn của cả nhân loại. Nhã nhạc cung đình theo nghĩa thông thƣờng đƣợc hiểu là các thể loại ca nhạc, kể cả các thể loại ca nhạc đi kèm với múa và kịch hát, dùng trong các lễ nghi cúng tế và triều chính, các ngày quốc lễ do triều đình tổ chức và sinh hoạt vui chơi giải trí của vua và hoàng tộc. Tên gọi Nhã nhạc đƣợc các triều đại phong kiến Việt Nam sử dụng với những nội hàm khác nhau: khi để chỉ âm nhạc cung đình nói chung, lễ nhạc cung đình nói riêng, khi để chỉ một tổ chức âm nhạc, thậm chí một dàn nhạc cụ thể.
Nhã nhạc cung đình mang sắc thái địa phƣơng rõ rệt, nhƣng không phải là một thứ âm nhạc địa phƣơng. Do hoàn cảnh lịch sử, Nhã nhạc đã một thời gian khá dài đóng vai trò là "quốc nhạc" dƣới thời thuộc Pháp nhƣng vẫn chinh phục đƣợc quần chúng hâm mộ rộng rãi, đƣợc sử dụng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Ở những nơi này, không phải chỉ có vấn đề thƣởng thức Nhã nhạc nhƣ một đặc sản có hƣơng vị lạ từ nơi khác đem đến, mà ngƣời ta còn thấy hiện tƣợng Nhạc cung đình thâm nhập, ảnh hƣởng trở lại và làm giàu thêm cội nguồn miền Bắc; đồng thời góp những nhân tố quan 12 trọng làm nảy sinh và hình thành phong cách đặc thù của âm nhạc miền Nam là Đờn ca tài tử và Cải lƣơng. Đờn ca tài tử Đờn ca tài tử (còn gọi là nhạc tài tử) hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian, truyền vào vùng đất Nam Bộ, phát triển chủ yếu tại Nam Bộ và miền Nam Việt Nam.
Đờn (đàn) là để chỉ âm nhạc của dàn nhạc và của từng bài ca cụ thể. Ca (tiếng hát) là để chỉ lời ca, chất giọng, trình độ diễn xƣớng của những ngƣời tham gia. Tài tử đƣợc hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, tài tử là những ngƣời có tài.
Trƣớc hết, những ngƣời tham gia soạn bài bản, đờn và ca diễn là những ngƣời có tài. Đó là những ngƣời giỏi âm luật, có kiến thức về âm nhạc Nam Bộ, những ngƣời có cảm thụ âm nhạc tốt, biết xử lý bản nhạc theo đúng quy chuẩn âm nhạc và theo ngẫu hứng của chính mình, là những ngƣời có giọng ca đẹp, có kiến thức về nhịp điệu, tiết tấu, tự tin trƣớc đám đông. Nghĩa thứ hai, tài tử là những ngƣời không chuyên nghiệp. Họ xuất thân từ các ngành nghề, giai cấp khác nhau trong xã hội, yêu đờn ca nhƣng họ không và chƣa bao giờ là nghệ sĩ chuyên nghiệp trên sân khấu.
Họ đến với âm nhạc vì yêu âm nhạc, yêu nghệ thuật; muốn thể hiện cảm xúc của mình qua âm nhạc và gửi niềm cảm xúc ấy đến mọi ngƣời. Tài tử đƣợc hiểu với cả hai nghĩa ấy và nghĩa nào cũng phù hợp. Xung quanh chữ Tài tử có những quan niệm khác nhau. Có ngƣời cho rằng: Tài tử nghĩa là không chuyên nghiệp; là loại âm nhạc không chuyên dùng để tiêu khiển, giải trí.TS Shee Dae Cheol (Hàn Quốc) trong tham luận đọc tại Hội thảo Nghệ thuật đờn ca tài tử và những lối hòa đàn ngẫu hứng đã gọi Đờn ca tài tử là: “một hình thức âm nhạc nghiệp dư cao quý” [32, 13 tr.
Theo quan niệm này, ngƣời ta chỉ dựa trên biểu hiện nhất thời của các sinh hoạt đờn ca mà không xem xét đến tính chất đặc trƣng của âm nhạc, quá trình kế thừa, sáng tạo, cải biên, bảo lƣu và truyền dạy nhạc của các thế hệ nghệ nhân - là những yếu tố cơ bản làm cho dòng nhạc Đờn ca tài tử ngày càng hoàn thiện và phát triển. Nhạc sĩ Vũy Chỗ lại khẳng định: Tài tử là chuyên nghiệp. “Nhạc tài tử là dòng nhạc truyền thống bác học, trước kia dùng chơi trong thính phòng; phong cách phong lưu, chững chạc” [10, tr. Tài tử là ngƣời có tri thức và tài năng, đƣợc công chúng yêu mến, ngƣỡng mộ.TS Trần Văn Khê dung hòa cả hai quan niệm trên, ông cho rằng: Đờn ca Tài tử không phải để kiếm sống mà để giải trí, cùng với bạn đồng điệu hòa đờn cho ngƣời mộ điệu thƣởng thức, đàn hát để vui chơi với nhau, khác với những nhóm Nhạc lễ là các nhạc sĩ chuyên nghiệp dùng đờn ca làm kế sinh nhai.
Nhƣng không phải vì không chuyên nghiệp mà những ngƣời đờn ca tài tử có trình độ nghệ thuật thấp [29, tr. Quan niệm của GS.TS Trần Văn Khê hiện nay rất sát hợp với tính chất đặc thù và thực tế sinh hoạt của Đờn ca tài tử. Tố chất “tài tử” trong mỗi nghệ nhân đờn ca còn là phẩm chất tốt đẹp của ngƣời nghệ sĩ dân gian. Quan niệm đúng đắn về Đờn ca tài tử sẽ có cách nhìn nhận chính xác về ngƣời tài tử và nghệ thuật Đờn ca tài tử.
Đờn ca tài tử, từ trong bản thân tên gọi là một thể loại âm nhạc không chuyên, nhƣng những quy ƣớc chặt chẽ từ bài bản đến phong cách biểu diễn đã làm cho thể loại âm nhạc này hết sức chuyên nghiệp. Đờn ca tài tử là sự đan xen giữa tính bác học bởi những khắt khe của hệ thống bài bản, làn điệu; tính chuyên nghiệp bởi sự tinh xảo của kỹ thuật diễn tấu và cả sự tinh tế của phong cách biểu diễn cùng với những ngẫu hứng trong diễn tấu, sự thể nghiệm không ngừng ở nhiều phƣơng diện, cách chơi tri âm - tri kỷ giữa 14 những ngƣời bạn. Đờn ca tài tử vừa thể hiện tính bác học của thể loại, đồng thời mang đặc điểm dân gian trong hình thức tổ chức, phƣơng pháp sáng tạo, đặc biệt là cách thức truyền dạy. Giáo dục, đào tạo Giáo dục: Theo Bách khoa toàn thƣ Wikipedia: “Giáo dục là một hình thức học tập, trong đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm ngƣời từ thế hệ này (ngƣời truyền đạt) đƣợc chuyển giao sang thế hệ kế tiếp (ngƣời thụ huấn) thông qua giảng dạy, huấn luyện, nghiên cứu.
Giáo dục thƣờng diễn ra dƣới sự hƣớng dẫn của ngƣời khác, nhƣng cũng có thể tự học. Bất kỳ sự trải nghiệm nào mà có tác dụng trên cách suy nghĩ, cảm nhận hay hành vi của một ngƣời đều có thể đƣợc coi là giáo dục”. Nói cách khác: “Giáo dục là quá trình đƣợc tổ chức có ý thức hƣớng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của ngƣời học theo hƣớng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách ngƣời học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con ngƣời trong xã hội đƣơng đại”.
Mục tiêu của giáo dục là phát triển con ngƣời toàn diện, nhất là khả năng tƣ duy, óc sáng tạo; tức là đào tạo con ngƣời biết phán đoán, biết hành động và biết yêu thƣơng theo đúng phẩm giá của con ngƣời đã đƣợc tạo hoá ban cho. Đào tạo: Nghĩa gốc là chế tạo, nặn đúc cho thành. Nghĩa bóng là gầy dựng lên, bồi dƣỡng rèn luyện, giáo hoá cho nên ngƣời: Đào tạo nhân tài. Đào tạo cho đến thành tài trong một lĩnh vực đòi hỏi những tiêu chuẩn nào đó, nghĩa là dạy ngƣời học kiến thức, kỹ năng và nghề nghiệp.
Đào tạo có nghĩa hẹp hơn giáo dục, thƣờng những ngƣời đã đƣợc giáo dục cơ bản rồi, mới đƣợc đào tạo một ngành nghề chuyên môn sâu hơn. Giáo dục mang ý nghĩa rộng hơn, không chỉ nhằm truyền đạt các kiến thức cơ bản 15 hay chuyên môn hẹp, mà còn xây dựng con ngƣời với nền tảng văn hoá, lối sống, thể lực, cách suy nghĩ, giao tiếp, ý thức xã hội, v.