CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THEO TIẾP CẬN CIPO 1. Tổng quan nghiên cứu về giáo dục và quản lý kỹ năng sống cho học sinh THPT 1. Các nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tại Diễn đàn Giáo dục Thế giới Dakar, tháng 5/2000 trường học thân thiện với người học được phản ánh trong quan điểm toàn diện về chất lượng được nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar. UNESCO và UNICEF đã nhận thấy mô hình "Trường học thân thiện" với các yếu tố của nó là một giải pháp nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục.
Vì vậy mô hình này đã được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới. Trong mô hình trường học thân thiện, tiêu chí giáo dục KNS vừa như là một biểu hiện của chất lượng giáo dục, vừa để giúp học sinh sống an toàn. Kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho tất cả mọi người ở mỗi quốc gia cũng nhấn mạnh: cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp và KNS của người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục. Cho nên, trong mục tiêu 6 của chương trình đã coi KNS là một khía cạnh của chất lượng giáo dục.
Đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học. Ở các nước phương Tây, KNS từ lâu đã được quan tâm. Mô hình giáo dục của Pháp thế kỉ XXI theo đề xuất của Edgard Mong là phải giảng dạy về hoàn cảnh con người hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động như thế nào trong những điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào và học cách sống. Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: Cần nâng cao kỹ năng giao lưu qua nói, viết, đọc, nghe, cần phát triển khả năng suy ngẫm.
người Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn. Ở khu vực Đông Nam Á, việc giáo dục KNS đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều nước. Ở Lào, giáo dục KNS được lồng ghép vào chương trình đào tạo 7 chính qui, không chính qui và các trường sư phạm đào tạo giáo viên từ năm 1997. Tại Campuchia chương trình giáo dục chính qui đã thực hiện việc tích hợp dạy KNS vào bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12.
Tại Malaysia, Bộ Giáo dục coi KNS là môn kỹ năng của cuộc sống. Tháng 12 năm 2003 tại Bali (Inđônesia) đã diễn ra hội thảo về giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nước. Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chung và cũng có nhiều điểm riêng trong quan niệm về giáo dục KNS của các nước. Mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy ở hội thảo Bali là nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Có thể nói, ở nước ngoài thanh thiếu niên đã được giáo dục những KNS cơ bản. Đó là những kỹ năng quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống. Những KNS này có thể được trang bị trong nhà trường hoặc thông qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng tránh thương tích. Ở Việt Nam khái niệm KNS được biết đến từ chương trình của UNICEF vào năm 1996 "Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường".
Tham gia chương trình này có ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ. Khái niệm KNS được hiểu đầy đủ và đa dạng hơn sau hội thảo "Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống" do tổ chức UNESCO tài trợ được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 2003. Từ đó những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam hiểu đầy đủ hơn về KNS và vấn đề cần thiết phải giáo dục KNS cho thế hệ trẻ. Nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục KNS hướng tới trang bị cho học sinh nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại [20]; giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng giáo dục KNS ở Việt Nam và một số nước trong khu vực, từ đó hiểu về KNS và giáo dục KNS cụ thể hơn, hướng dẫn cách tổ chức hoạt động giáo dục nhằm hình thành KNS cốt lõi cho học sinh THPT [2]… 8 Đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục KNS được thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội: Ở khu vực ngoại thành với đối tượng là học sinh tiểu học [14], học sinh THPT [21]; trong khu vực nội thành với đối tượng là những đoàn viên tham gia sinh hoạt tại Nhà văn hóa học sinh, sinh viên Hà Nội [7].
Nhưng đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào về quản lý giáo giáo dục KNS cho đối tượng là học sinh các trung tâm GDTX trong nội thành Hà Nội. Vì vậy, thông qua đề tài nghiên cứu này, mong rằng luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh các trung tâm GDTX trong nội thành Hà Nội. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, Quản lý nhà trường và Quản lý giáo dục Mọi tổ chức không thể tồn tại nếu không có chức năng quản lý.
Mọi hoạt động đều được chỉ đạo, vận hành từ bộ phận đầu não nhằm đạt tới mục tiêu chung của tổ chức. Từ góc nhìn khác nhau, nên có nhiều quan điểm và cách lý giải về thuật ngữ quản lý như: Quản lý là tác động có định hướng, kế hoạch của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt mục đích nhất định [12], quản lý là tác động có hướng đích bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu [19], quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn [10]. Các định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, song có thể nhận thấy quản lý gồm các yếu tố: - Chủ thể quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người); - Đối tượng bị quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người); - Mục tiêu quản lý; - Môi trường và điều kiện tổ chức (quản lý trong hoàn cảnh nào, công cụ, phương pháp quản lý). Như vậy có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
9 Trong luận văn này tác giả đề cập đến quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp: Quản lý một trường học. Quản lý nhà trường là: Thực hiện đường lối giáo dục của Đảng, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo [9]; Hoạt động của bộ phận quản lý tổ chức, điều hành hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường [23]. Có thể hiểu, quản lý nhà trường thực chất là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhà trường đến tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy học và giáo dục tiến lên trạng thái mới về chất. Theo phương diện nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu, khái niệm quản lý giáo dục được hiểu như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng [15], là sự tác động có kế hoạch của chủ thể lên đối tượng, được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục nhằm tạo ra hiệu quả đáp ứng yêu cầu của xã hội đặt ra đối với giáo dục [22], là tác động một cách khoa học đến nhà trường, tổ chức tối ưu quá trình dạy học theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng hướng tới mục tiêu dự kiến và tiến lên trạng thái chất lượng mới [16].
Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn. Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có sự tác động của người đến người. Đó là sự tác động qua lại tạo thành một loại quan hệ xã hội đặc biệt là quan hệ quản lý. Kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về KNS và mỗi quan niệm được diễn đạt theo những cách khác nhau: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
10 Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng.