CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CUA HỌC SINH TIỂU HỌC CÓ CHA MẸ LY HON 1. TONG QUAN VE LICH SỬ NGHIÊN CỨU VAN ĐÈ TRÍ TUE CAM XUC 1. Những nghiên cứu trên thé giới Tri tuệ cảm xúc đã trở thành một dé tải được quan tâm rộng rãi trong giới khoa học cũng như giới bình dân ké từ khi quyền sách cùng tên của Daniel Goleman được xuất bản năm 1995, thời điểm ma cảm xúc đã được xem như một loại trí tuệ. Van dé cảm xúc tuy đã được bản đến từ thời Aritstôt nhưng mai đến thé ky XIX mới được bat dau nghiền cưu.
Cuối thé kỷ XIX, Charles Darwin đã thuyết phục mọi người về tính di truyền va sự tiễn hỏa của các phản xạ cam xúc. Ong cho rằng cảm xúc có vai trò quan trọng cho sự sinh tồn vả thích nghi của một ca thể. Sự thể hiện cảm xúc giúp con người và động vật ton tại, bởi vì nó vừa đóng vai trò là tín hiệu của hành động chủ định vừa đóng vai trò là sự chuẩn bị cho hành động đó [9, tr. Cũng trong khoảng thời gian này, các trắc nghiệm trí thông minh (Intelligence testing) được hình thành và người ta có chút lưu tâm xếp đặt cảm xúc vào loại tri thông minh ngôn ngữ.
Một so nha tâm ly học cũng có gang nhận dang tri thông minh xã hội tuy nhién những nỗ lực trong lĩnh vực này không được khuyên khích va khải niệm trí thông minh vẫn được dành riêng cho khả năng nhận thức [22, tr. Những công bố đáng chủ ý vẻ trí tuệ cảm xúc bắt đầu xuất hiện ở dau thể ky XX với Edward Thorndike, giao sư Tam lý học Đại học Tổng hợp Columbia trong những nghiên cứu vẻ trí tuệ xã hội nam 1920. Theo ông, trí tuệ xã hội là “năng lực hiểu và điều khiển mà những người đàn ông, đàn bà, con trai và con gái sử dụng để hành động một cách khôn ngoan, sảng suốt trong các mỗi quan hệ của con người” [17, tr. Nghiên cửu của ông tập trung vao việc m6 tả, giải thích va đánh gia hành vi xã hội.
Năm 1935, Edgar Doll xuất bản công cụ dau tiên dé đo lường trí thông minh xã hội ở trẻ nhỏ. Chịu anh hưởng từ Thorndike và Doll, David Wechsler đưa thêm hai tiểu thang đo là khả năng hiểu ngôn ngữ va sắp xếp tranh vào trắc nghiệm tri thông minh nỗi tiếng của ông. Nó được thiết kế để đo lường khía cạnh thông minh xã hội. Năm 1939, một năm sau lan xuất ban đầu tiên trắc nghiệm ấy, Wechsler cho rằng ảnh hưởng của yếu tô phi nhận thức (non intellective) chưa được xét đến trong công trình nay.
Ong khang định rằng mö hình tri thông minh của chúng ta sẽ không day đủ cho đến khi nào chúng ta mé tả cách thỏa dang yếu tô ay. Wechsler xem yêu tổ ấy là cần thiết dé dy đoán khả năng thành công của một người. Ông viết: “Cau hỏi chính đặt ra là yếu to ‘phi nhận thức ` có được thừa nhận là thanh tổ của trí tuệ chung? Luan diém của tôi đã đưa ra rằng những yếu tổ này không chỉ được thừa nhận mà còn rất can thiết. Tôi đã có gắng chỉ ra rằng những yeu tô phi nhận thức không chỉ được thừa nhận là thành tổ của trí tuệ chung mà còn quyết định hành vi thẳng minh” [ L7, tr, 8].
Các nhà nghiên cứu còn khai thác dé tài này qua những cách tiếp cận khác. Trong thập ky 1970, người ta tập trung nghiền cửu căn bệnh có tên gọi là Alexithymia (thuật ngữ do nha tâm bệnh học Peter Sifneos tạo ra năm 1972), biểu hiện ở những người không có khả năng nhận biết, hiểu và mô tả cảm xúc. Những công trình này từng bước giúp xác định vai trò không thể thiểu của cảm xúc trong đời sông hãng ngày của mỗi cá nhân. Như vậy, cho đến thập kỷ 70 của the ky XX, van dé trí thệ cảm xúc đã được dẫn định hình.
Tuy nhiên, khải niệm trí thông mình được hiểu theo quan niệm truyền thông là năng lực nhận thức được do bang các trắc nghiệm IQ vẻ nang lực suy luận logic- toán và nang lực ngôn ngữ, năng lực nhớ kiến thức vẫn nổi trội hơn nhiều. Đến khi Howard Gardner công ba ly thuyết đa tri tuệ năm 1983 thì các nhà nghiên cửu bắt đầu quan tâm đến các thành phân khác nhau trong cơ cầu của trí tuệ con người. Gardner cho răng không có hình thức duy nhất, toàn khỏi của trí tuệ quyết định thành công trong cuộc đời, đúng hon co một thang trí tuệ rộng lớn. Theo lap luận đỏ, ong đưa ra mỗ hình da tri tuệ và cho rằng trí tuệ ca nhân gom hai loại: trí thang minh liên cả nhân (interpersonal intelligence) va trí thông minh nội tầm (intranersonal intelligence), Ong cho rằng hai loại trí tuệ nảy cũng quan trong như trí thông minh han lâm được biểu thị bởi chỉ số [Q và do bằng trắc nghiệm IQ.
Vi dụ như chỉ với trí thông minh logic-toán. một người có thé đi xa trong lĩnh vực này. Nhưng với thành tựu cao đó, nêu người ấy còn có thêm thành phan trí tuệ về con người thì người ấy có cơ may thể hiện mình hoàn chỉnh hơn nhiều. Ngược lại, một người với trí tuệ logic — toán rat noi trội, có nhiều thành công trên lĩnh vực nay nhưng trí tuệ vẻ ban thân rất kém coi thì rất có thể cô đơn với những thành công của minh, thậm chi con tạo ra nhiều “ké thủ” cho minh [17].
Reuven Bar On là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ chỉ số EQ (Emotional Quotient) trong luận an tiên sĩ của ông năm 1985, Để trả lời cho câu hỏi: "Điều gì làm cho những người có cùng chỉ số 1Q dat mức thành công trong cuộc song khác nhau?”, ông đưa ra mô hình trí tuệ cảm xúc kiểu hỗn hợp gồm § yếu to liên quan đến trí tuệ cảm xúc giúp cả nhãn có kha nang thành công hơn người khác. Mô hình này sẽ được đề cập kỹ hơn ở phân sau. Kế thừa những nghiên cửu của các tác gia trước, Peter Salovey và John Mayer là hai nhà tầm ly học Mỹ đã công bổ định nghĩa chính thức đầu tiên về tri tuệ cảm xúc vao năm 1990: “Tri tuệ cam xúc la kha nang hiểu rõ cảm xúc của bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phan biệt được chúng và sử dụng những thông tin ấy dé hưởng dan suy nghĩ và hành động của minh”. Định nghĩa này đã có ảnh hưởng quan trọng đến lý thuyết trí tuệ cảm xúc tại thời điểm đó.
Cũng trong năm 1990, Mayer, Salovey và cộng sự đã công bố bộ trắc nghiệm đo trí tuệ cảm xúc và từ đây hai ông đã din dau sự phát triển khoa học về lý thuyết và phương pháp xác định chỉ số trí tuệ cam xúc, Sau bảy năm, Mayer va Salovey (1997) đã chỉnh sửa đối chút định nghĩa tri tuệ cảm xúc được nêu vào năm 1990 như sau: “Trí me cam xúc nhự là năng lực nhan biết bày tỏ cảm xúc; cảm xúc hóa tư duy; hiểu, suy luận với cảm xúc: điều khiển, kiểm soát cảm xúc của mình và của người khác. Dựa trên định nghĩa nay, mỗ hinh trí tuệ cảm xúc thuẫn nang lực được xảy dựng [ L9, tr. Với công trình tông hợp các nghiên cứu của P. Mayer va nhiều nhóm nghiên cứu khác, Daniel Goleman đã làm cho đẻ tai trí tuệ cảm xúc được sự chú y rộng rãi trên toàn thé giới.
Ngày nay, cụm từ trí tuệ cảm xúc ma chữ viết tat của nó là El xuất hiện rất nhiều trên các tựa sách, để chơi đành cho trẻ em, trên các chương trình TV.Trong quyền sách này, Goleman lý giải ban chất của xúc cảm dựa trên cách thức hoạt động của não bộ đông thời xác định vai trỏ quan trọng của trí tuệ xúc cảm đổi với chất lượng các mỗi quan hệ xã hội cũng như ảnh hưởng của những xúc cảm liêu cực trên sức khỏe và sự cân bang tâm lý và cách chung là khả năng thành công của con 10 người. Daniel Goleman khang định rang chúng ta can cỏ những nang lực xúc cảm ca nhân gồm: - Nang lực tự nhận biết bản than; - Năng lực tạo động lực; - Năng lực thâu cảm và năng lực giao tiếp xã hội. Ong cho rằng nên tảng của trí tuệ xúc cảm được hình thành trong giai đoạn thơ âu ở gia đình hay trưởng học. Sự căng thang xảy ra thường xuyên ở những năm đầu đời làm suy yếu trí tuệ dù răng kinh nghiệm sống sau này có thé bù đắp lại phan nảo nhưng chúng van dé lại những dau an rat sâu sắc.
Nói cách khác, đây là thời ky then chốt đẻ rèn luyện thỏi quen tâm lý chỉ phối cuộc sống con người trong cả cuộc đời. Những nghiên cửu của Goleman không chỉ dừng lại ở việc xác định bản chat của trí tuệ cảm xúc, vai trò của nd đổi với sự thành công của con người mà ông con đưa ra những biện pháp dé giao dục trí tuệ cảm xúc đặc biệt là giao dục cảm xúc cho trẻ. Như vay, nhìn một cách tong thé có thê nói có ba đại điện tiêu biểu đã đi sâu nghiên cửu trí tuệ cảm xúc đưới những cách tiếp cận khác nhau, trong đỏ R. Bar-On tiếp cận trí tuệ cảm xúc dưới góc độ nhân cách, P.
Mayer nghiên cứu đưới góc độ năng lực và D. Goleman tiếp cận dưới góc độ hiệu quả công việc. G mang nghiên cứu tri tuệ cảm xúc trên trẻ em, những công trình đầu tiên có thé kế đến là của Cassidy, Parke, Butkobsky và Braungart (1992) đo lường khả năng hiểu cảm xúc trên trẻ mẫu giáo. Barth và Bastiani (1997) cũng tập trung xem xét khả năng hiểu những thông điệp cảm xúc ở trẻ mẫu giáo.
Cả hai nhóm trên đều đi đến kết luận rằng những trẻ khó nhận điện cảm xúc của mình vả của người khác thường khỏ thiết lập mỗi quan hệ với bạn bẻ hom các trẻ khác [22, tr. Năm 2003, tô chức Open Adoption & Family Service đã goi bảng khảo sát đến 156 gia đình nhận các trẻ từ 7 đến 18 tuổi làm con nuôi và 143 người mẹ ruột của các em bao gồm các nội dung: chat lượng các môi quan hệ giữa 3 bên, sự hải lòng hay không với việc cho - nhận con nuôi va đồng thời do lưởng trí tuệ cảm xúc của các trẻ vừa néu dựa trên thang do trí tuệ cảm xúc của Bar On (EQ-i, YV). Kết quả cho thay trí tuệ cảm xúc của trẻ tăng lên khi trẻ nhận thức được mỗi quan hệ tắt đẹp giữa mẹ ruột va cha mẹ nhận nuôi trẻ [30].