Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Tổ chức nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 7 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Tổng quan những nghiên cứu về “nhận thức về Sức khỏe tâm thần” Trên thế giới, đặc biệt ở các nước Châu Âu đã thực hiện nhiều nghiên cứu về vấn đề nhận thức của công dân, giới trẻ về SKTT hoặc những kỳ thị về SKTT. Trong một nghiên cứu ở Úc về "Nhận thức về Sức khoẻ tâm thần trong trường Đại học" của nhóm tác giả Nicola J. Reavley và cộng sự (2012), đã nghiên cứu trên 774 (65%) là sinh viên và 422 (35%) là giảng viên.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra có hơn 70% sinh viên và nhân viên có thể xác định trầm cảm với một số dấu hiệu nhận biết liên quan đến tuổi già, phụ nữ và tình dục dễ dàng nhận biết hơn. Hơn 80% người được hỏi cho biết họ sẽ tìm kiếm sự trợ giúp nếu họ gặp vấn đề tương tự. Tuy nhiên, tỷ lệ ý định giúp đỡ, tìm kiếm một cách cụ thể của sinh viên là tương đối thấp, chỉ có 26% đề cử một chuyên gia thực hành và chỉ có 10% là đề cử một cố vấn sinh viên. Những nhân tố liên quan đến sự kỳ thị bao gồm nam giới, thanh thiếu niên, trình độ học vấn thấp, sinh ra ngoài nước Úc và thiếu nhận thức về trầm cảm.
Trong một nghiên cứu ở Úc trên nhóm nghiên cứu nằm trong độ tuổi từ 15 đến 24, rối loạn tâm thần được mẫu nghiên cứu nhìn nhận như một gánh nặng bệnh tật [16] và một nghiên cứu gần đây cho thấy rằng tần suất sinh viên đại học mắc bệnh tâm thần cao hơn so với dân số nói chung [46]. Trong công cuộc xây dựng thang đo nhận thức về sức khỏe tâm thần (MHLS) của Matt O’Connor, Leanne Casey năm 2014, nghiên cứu tại Úc, với mẫu nghiên cứu gồm 372 người từ 17 -55 tuổi, có 94 nam và 278 nữ chủ yếu là người da trắng, trong đó tuổi trung bình là 21. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, điểm trung bình của thang đo là 127.38 với độ lệch chuẩn là 12.63, điểm thấp nhất là 92 và cao nhất là 155 với kết luận là thang đo phân phối ở mức độ trung bình. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra nhóm bác sĩ tâm thần có nhận thức về SKTT cao hơn nhóm cộng đồng.
Trong một nghiên cứu khác của Jorm và cộng 8 z sự(2005),cho biết mức độ hiểu biết của cộng đồng về sức khỏe tâm thần là rất thấp, trong đó có nhiều cá nhân không nhận biết được những triệu chứng của rối loạn tâm thần, đặc biệt là trầm cảm, thái độ tích cực sẽ kéo theo khả năng nhận thức về sức khỏetâm thần là tốt hơn. Một cuộc khảo sát nhận thức về SKTT của hộ gia đình người Malaysia được tiến hành từ cuối tháng 8 năm 2007 đến đầu tháng 10 năm 2007, sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Đạo đức trường Đại học Malaya Medical. Các hộ gia đình được tiếp xúc chủ yếu vào cuối tuần và buổi trưa các ngày trong tuần (từ 1500 đến 1930 giờ). Sau khi giải thích các mục tiêu của cuộc điều tra, người trả lời cũng được đảm bảo rằng sự tham gia của họ vẫn còn ẩn danh.
Một lá thư đồng ý đã được ký bởi mỗi người trả lời trước buổi phỏng vấn. Người phỏng vấn kiểm tra bằng tay bản câu hỏi sau mỗi cuộc phỏng vấn trước khi tiếp tục gia đình kế tiếp. Cuộc khảo sát gồm tổng cộng 651 người trả lời phỏng vấn, 69 người phiếu loại và chỉ còn 587 câu hỏi hoàn thành đã được trả lại, đạt tỷ lệ phản hồi chung là 90,2%. Trong số 587 người trả lời, 321 (54,7%) là nam giới và 266 (45,3%) là nữ, tuổi từ 18 đến 60 (trung bình và độ lệch chuẩn [SD] 33,9 ± 12,13) năm.
Phần lớn người được hỏi là người Mã Lai (70,9%), trong khi 118 (20,1%) là người Trung Quốc và 51 (8,7%) là người Ấn Độ. Phần lớn người được hỏi là người Hồi giáo (71,2%), tiếp theo là Phật tử (9,0%), Hindu (7,3%) và Kitô hữu (11,1%). Có hơn một phần tư số người được hỏi đã hoàn thành giáo dục sau trung học, trong khi 57,8% số người đã hoàn thành bậc trung học, 13,7% chỉ có trình độ tiểu học và không có bằng cấp chính thức. Tuy nhiên kết quả chỉ ra, có ít hơn 5% số người được hỏi (n = 29) cho biết bản thân họ, hoặc những người mà họ biết có vấn đề về sức khoẻ tâm thần [53, tr.
Đồng thời,kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra phần lớn những người trả lời không có kiến thức về sức khoẻ tâm thần. Tuy nhiên, tất cả những người trả lời đều có thái độ trung lập đối với các vấn đề về sức khoẻ tâm thần. Người ta nhận thấy rằng dân tộc, tôn giáo, trình độ giáo dục và địa điểm cư trú là một vài đặc điểm nhân khẩu học có liên quan đáng kể đến kiến thức hoặc thái độ của người trả lời về các vấn đề sức khoẻ tâm thần [53]. 9 z Tại Việt Nam có nhiều nghiên cứu bàn về nhận thức của cộng đồng hay một nhóm người, nhóm bệnh cụ thể về sức khỏe tâm thần.
Một vài nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam đã được công bố về sự phổ biến của rối loạn tâm thần. Một nghiên cứu của nhóm tác giả Wright và cộng sự năm 2007 phát hiện ra rằng vị thành niên và thanh thiếu niên (từ 12 đến 25 tuổi) có thể gãn nhãn một rối loạn được miêu tả một cách châm biếm, cũng có nhiều khả năng họ đánh giá các nguồn trợ giúp chuyên nghiệp thích hợp cho rối loạn đó là có ích. Nhưng nó không cung cấp thông tin về ý định giúp đỡ của giới trẻ nếu họ phát triển một vấn đề tương tự [49]. Qua phần tổng quan một số nghiên cứu về nhận thức về SKTT của cộng đồng trên thế giới nói chung, phần lớn cộng đồng nhận thức còn hạn chế về các rối loạn tâm thần [33], co nhiều nhận thức sai lệch về rối loạn tầm thần [49], niềm tin vào khả năng của bản thân để thực hiện hành vi tìm kiến trợ giúp có nhiều rào cản [36].
Tại Việt Nam nhận thức về SKTT cũng đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung lý giải nhận thức về SKTT trên khía cạnh nhận biết các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, tâm thần phân liệt… hoặc nhận thức về tìm kiếm thông tin về SKTT, những nguồn trợ giúp sẵn có, các dịch vụ trợ giúp chuyên nghiệp…mẫu lựa chọn nghiên cứu là một nhóm bệnh nhân, một nhóm tuổivà cộng đồng. Đông thời chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về SKTT tập trung chủ yếu vào nhóm yếu tố như niềm tin vào nguồn trợ giúp và bản thân, khả năng nhận biết rối loạn, khả năng tiếp cận các dịch vụ và thái độ đối với bệnh tâm thần. Phần lớn nhận thức và hành vi TKTG về SKTT của người Việt Nam bị ảnh hưởng bởi các khái niệm Việt về bệnh tâm thần và gắn với nhiều tên gọi định kiến như: điên, thần kinh, dở… nên tâm lý miệt thị và mặc cảm có ảnh hưởng nhiều đến việc cá nhân thực hiện tìm kiếm trợ giúp chủ động [28].
Qua đó những nghiên cứu trên thế giới và trong nước về nhận thức về SKTT đã đánh giá phần nào thực trạng nhận thức của cộng đồng về SKTT, từ đó cho thấy cộng đồng còn nhận thức thấp về SKTT[34, tr.515], đặc biệt còn nhiều 10 z kỳ thị và định kiến đối với vấn đề SKTT[36]. Do đó, tại Việt Nam, việc thực hiện nghiên cứu về nhận thức về SKTT của cộng đồng nói chung được nhiều nghiên cứu đề cập. Tuy nhiên sự mới mẻ của đề tài ở chỗ, tập trung chỉ ra thực trạng nhận thức về SKTT trên đối tượng là học sinh THPT, tức các em học sinh nằm trong độ tuổi từ 15 – 18 tuổi. Bởi đây làgiai đoạn phát triển và thay đổi mạnh mẽ về đặc điểm tâm sinh lý, nên tồn tại nhiều mâu thuẫn giữa hiện thực khách quan và mong muốn chủ quan, cùng với nhiều áp lực trong học tập để hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp và hướng nghiệp sắp tới (bước ngoặt lớn trong cuộc đời).
Chính vì thế, bản thân các em sẽ có nhiều trải nghiệm để cảm nhận rõ nét về SKTT của bản thân và/hoặc quan sát từ những người xung quanh. Qua đó, nghiên cứu sẽ tìm hiểu được nhiều điều có ý nghĩa khi nghiên cứu SKTT trong độ tuổi này, góp phần đề xuất chiến lược phòng ngừa với những cơ sở đào tạo và chăm sóc SKTT nhằm giúp các em dễ dàng vượt qua giai đoạn nhạy cảm này. Do đó, với đề tài “Tương quan giữa nhận thức về Sức khỏe tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp của học sinh THPT” là đề tài nghiên cứu khả mới mẻ tại Việt nam và sẽ hướng đến làm rõ hơn thực trạng nhận thức về SKTT và hành vi tìm kiếm trợ giúp của học sinh THPT và mối quan hệ giữa chúng. Tổng quan các nghiên cứu về hành vi TKTG và sử dụng nguồn trợ giúp ở học sinh THPT Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ý định, hành vi tìm kiếm sự trợ giúp về sức khỏe tâm thần ở giới trẻ và cộng đồng.
Tuy nhiên tại Việt Nam những nghiên cứu tượng tự còn rất ít và chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về ý định, hành vi TKTG của học sinh THPT về vấn đề SKTT. Trong số những nghiên cứu đã được biết đến, cần kể đến một nghiên cứu tại trường học thanh thiếu niên của Đức trong độ tuổi từ 12-17 tuổi chỉ ra có 18,2% những người bị rối loạn lo âu có thể chẩn đoán và chiếm 23% những người bị rối loạn trầm cảm đã từng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần [22]. Một nghiên cứu khác được thực hiện trên hơn 11.000 vị thành niên từ 15 đến 16 tuổi ở trường học của Na Uy cho thấy, chỉ có 34% những người có mức độ của các triệu chứng trầm cảm và lo âu đã tìm kiếm sự giúp đỡ chuyên nghiệp 11 z so với những năm trước đó [17]. Tương tự như vậy, trong một điều tra Quốc gia về sức khỏe tâm thần và An sinh điều tra tại Úc chỉ ra, chỉ có 29% trẻ em và thanh thiếu niên với một vấn đề sức khỏe tâm thần đã liên lạc với dịch vụ chuyên nghiệp trong khoảng thời gian 12 tháng, về vấn đề sức khỏe, sức khỏe tâm thần và các dịch vụ giáo dục [42].