CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU.1 Khái niệm nhu cầu .2 Khái niệm công tác xã hội .3 Khái niệm hoạt động .4 Khái niệm nhu cầu về hoạt động công tác xã hội học đường .5 Khái niệm học sinh THCS.6 Khái niệm nhân viên CTXH .2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu .1 Lý thuyết nhu cầu .2 Lý thuyết vai trò.3 Lý thuyết biến đổi xã hội .4 Lý thuyết gắn bó của Bowby .3 Vai trò của nhân viên CTXH trong trường học.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .5 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên (Tuổi THCS). 40 CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ NHU CẦU ĐƯỢC TRỢ GIÚP VỀ CTXH CỦA HỌC SINH THCS.1 Nhận diện những khó khăn học sinh THCS đang gặp phải .1 Khó khăn về sự thay đổi tâm sinh lý lứa tuổi dạy thì .2 Khó khăn trong hoc tập .3 Khó khăn trong mối quan hệ bạn bè .4 Khó khăn trong mối quan hệ thầy trò .5 Khó khăn trong mối quan hệ gia đình .2 Cách thức học sinh ứng phó với khó khăn .3 Hình thức trợ giúp trong nhà trường hiện nay.4 Hoạt động công tác xã hội học sinh mong muốn .1 Thành lập phòng tham vấn .2 Trợ giúp trực tiếp của nhân viên công tác xã hội .3 Hình thức, địa điểm, thời gian trợ giúp học sinh mong đợi. 73 CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG TRỢ GIÚP HỌC SINH XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP PHÙ HỢP 76 3.1 Thành lập nhóm can thiệp .2 Đánh giá mức độ cần thay đổi phương pháp học tập.3 Tổ chức các hoạt động hỗ trợ học sinh xác định phương pháp học tập phù hợp.1 Thảo luận nhóm, chia sẻ kinh nghiệm học tập bản thân.2 Chia sẻ một số kinh nghiệm qua video, phóng sự về phương pháp học tập của một số cá nhân có thành tích cao.3 Mời chuyên gia giáo dục, một số học sinh trong trường có kết quả học tập tốt chia sẻ kinh nghiệm .4 Chia sẻ một số cách vượt qua áp lực, lo âu trong học tập.5 Đánh giá kết quả sau can thiệp.4 Lượng giá và kết thúc nhóm. 97 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.
102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 105 z DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Những khó khăn học sinh THCS đang gặp phải. 44 Bảng 2: So sánh các khó khăn học sinh gặp phải ở từng khối lớp. 45 Bảng 3: So sánh các vấn đề gặp khó khăn dựa trên giới tính.
47 Bảng 4: Các vấn đề trong khó khăn về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản. 48 Bảng 5 : Mức độ gặp khó khăn trong vấn đề học tập. 51 Bảng 6 : Khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè. 54 Bảng 7: Cách thức học sinh ứng phó với khó khăn.
62 Bảng 8: Mức độ mong muốn có phòng tư vấn tin cậy tại trường. 70 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Những vấn đề các em gặp phải trong mối quan hệ với thầy cô. 57 Biểu đổ 2: Các hình thức trợ giúp. Lý do chọn đề tài Tổng điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ 2, do Bộ Y tế, Tổng Cục Thống kê, WHO, UNICEF phối hợp tổ chức thực hiện tại 63 tỉnh thành, khảo sát trên 10.000 thanh thiếu niên.
Trong các kết quả [1], một số vấn đề về sức khỏe tâm thần của lứa tuổi này khiến các bậc phụ huynh và các nhà giáo dục không khỏi lo lắng: Có đến 102 em (25%) đã tìm cách tự tử và 32,6% trong số đó đã thực hiện hành vi tự tử, hoặc đã cố tìm cách tự tử trong 12 tháng; Có tới 409 em (4,1%) có ý định tự tử, cao gấp 2 lần so với 5 năm trước Đã rất nhiều nhà tâm lý học, bác sĩ tâm bệnh đều chung một nhận định, lứa tuổi dậy thì từ 13 - 16, hành vi thường diễn ra bột phát do nhiều yếu tố “bất thường” ở giai đoạn này: áp lực từ việc học và thi cử, từ bạo lực gia đình, thất bại trong quan hệ tình cảm tuổi học trò… Song quan trọng hơn, nguyên nhân chính là hầu hết các vụ tự tử ở lứa tuổi này đều xuất phát từ… vấn đề khủng hoảng tâm lý – xã hội ở lứa tuổi vị thành niên. Theo thống kê mới của Trung tâm Tư vấn sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình của Bệnh viện Phụ sản Trung ương, trong 5 năm 2008 - 2012, tại đây mỗi năm có xấp xỉ 80 - 100 ca đẻ/nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên. Tỷ lệ mang thai vị thành niên trong tổng số ca nạo phá thai ở Bệnh viện này chiếm khoảng 1 – 3 [2]. Theo hội Kế hoạch hóa Gia đình Việt Nam cho biết Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% là lứa tuổi vị thành niên.
Hiện Việt Nam có 23,8 triệu người vị thành niên và thành niên, chiếm 31% dân số. Ước tính trong mười năm tới, tỷ lệ này sẽ tăng thêm 4,8% [3]. Không những thế còn rất nhiều con số đáng báo động từ những vụ tự tử hay tự tử tập thể của các em lứa tuổi 13,14 chỉ vì những lý do hết sức vu vơ như chỉ vì một chuyện buồn của một người bạn thân mà cả 1 z nhóm bạn cùng nhảy sông tự tử. Những hình ảnh học sinh xô xát không còn là điều hiếm, câu chuyện bạo lực học đường không chỉ có học sinh nam mà giờ đây là cả các em học sinh nữ.
Những hình ảnh áo trắng đồng phục ẩu đả nhau chỉ vì một ánh nhìn không thiện cảm hay mối quan hệ tình cảm khác giới chớm nở đã trở nên nhiều và đáng báo động…Có những em học sinh học rất giỏi nhưng rồi lại trầm cảm, điên khùng chỉ vì áp lực học hành quá lớn, sự kỳ vọng của cha mẹ đặt nên vai các em một khối nặng vô hình, sự vô tâm của cha mẹ, việc không thể can thiệp sâu của nhà trường đẩy nhiều em đến tệ nạn xã hội, đến việc mất thăng bằng về tâm lý. Nhìn nhận ở một góc độ nhà nghiên cứu, ThS. Đỗ Văn Bình cho rằng: “Ở Việt Nam, trong những năm qua các vấn đề xã hội của học sinh ngày càng có xu hướng gia tăng, vai trò giáo dục của gia đình, cộng đồng cũng như một số hạn chế của cơ chế chính sách giáo dục đã được nhiều chuyên gia cũng như toàn xã hội quan tâm phân tích, góp ý và một số thử nghiệm mô hình CTXH học đường đã được triển khai đạt kết quả tốt [ 7, trang1] Tại hội thảo “ Phát triển nghề công tác xã hội học đường” do Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Tổ chức Unicef Việt Nam tổ chức ngày 10/6, tại thành phố Hồ Chí Minh còn được nghe 12 tham luận của các đại biểu đến từ các trường Đại học, các chuyên gia, nhà nghiên cứu xã hội học và công tác xã hội, các tổ chức phi chính phủ và các em sinh viên đang theo học ngành CTXH thảo luận xoay quanh về vấn đề phát triển mạng lưới CTXH học đường hiện nay, các mô hình kinh nghiệm từ các địa phương trong CTXH, chương trình đào tạo nghề CTXH phù hợp với tình hình hiện nay, các chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến ngành CTXH trong thời gia qua và chiến lược giáo dục, đặc biệt là ngành CTXH trong giai đoạn 2011 – 2020, như Đề án 32 của Chính phủ về phát triền nghề CTXH đã được ban hành trong tháng 3 vừa qua và một giải pháp cũng như kiến nghị đến các Bộ, 2 z ngành về phát triển nghề CTXH học đường trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay [7,trg 2] Điều đó đang đặt ra một thách thức không nhỏ với việc cần thiết một hệ thống chuyên nghiệp trợ giúp các em trong đời sống tâm lý lứa tuổi đầy phức tạp cộng với sự phát triển nhanh mạnh của đời sống kinh tế cần thiết cần có một đội ngũ làm công tác xã hội trong trường học trợ giúp các em với những vấn đề các em gặp phải trong cuộc sống. Ở các nước trên thế giới công tác xã hội trong trường học đã phát triển nhưng ở Việt Nam lĩnh vực công tác xã hội trường học vẫn là lĩnh vực mới gần như chưa có cơ sở nào về công tác xã hội trường học.
Với những xu hướng biến đổi tất yếu của xã hội nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường học hiện nay ra sao là lý do vì sao tôi lựa chọn vấn đề: “Nhu cầu về hoạt động công tác xã hội trong trường học tại Hà Nam (Nghiên cứu trường hợp Trường Trung học Cơ sở Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) là đề tài nghiên cứu của mình. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Những vấn đề trong lĩnh vực hoạt động CTXH đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu đặc biệt trong những năm gần đây nhất là CTXH trong lĩnh vực trường học đây là một lĩnh vực không còn xa lạ trên thế giới nhưng ở Việt Nam lĩnh vực này chỉ mới chớm nở. Đặc biệt với xu thế của thời đại sự biến đổi xã hội thì nhu cầu về công tác xã hội trong trường học đang được đặc biệt quan tâm trong lĩnh vực nghiên cứu cũng như thực hành.1 Các nghiên cứu về CTXH học đường trên thế giới CTXH là một ngành nghề đã có từ lâu, phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trên một thế kỷ qua, khoa học và nghề chuyên môn CTXH đã hình thành và phát triển đem lại những lợi ích đáng kể thông qua việc cung cấp các dịch vụ hữu ích cho con người.
Đến nay công tác xã hội có mặt tại 80 quốc gia trên thế giới, đã và đang hỗ trợ cho những người yếu thế, góp phần nâng 3 z cao chất lượng cuộc sống mang lại bình đẳng và công bằng xã hội. Với những ý nghĩa quan trọng đó, công tác xã hội đã được đưa vào rất nhiều lĩnh vực khác nhau, như: Chăm sóc hỗ trợ những đối tượng thiệt thòi, yếu thế (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, người nghèo, .) ở nhiều các lĩnh vực khác nhau đặc biệt ở môi trường trường học. Năm 1871 các dịch vụ công tác xã hội học đường được đưa vào trường học ở Anh sau đó là các trường học tại New York, Boston và Hartfort vào năm 1960 trong nỗ lực hỗ trợ chương trình xóa mù chữ trong các gia đình ở Mỹ. Tiếp đó là sự phát triển công tác học đường ở Thụy Điển năm 1950 các nước Canada, Australia.