Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước.
Giáo dục ngày nay đã thực sự trở thành nhân tố phát triển kinh tế quan trọng của một quốc gia. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin ngày nay thì giáo dục càng có vai trò quan trọng hơn nữa, bởi vì chỉ có giáo dục mới có thể cung cấp được nguồn nhân lực dồi dào, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội. Do vậy, tất cả các quốc gia, từ đất nước phát triển đến đất nước kém phát triển đều tập trung đầu tư cho giáo dục, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Điểm chung rất dễ nhận thấy ở tất cả các nước đó là đầu tư cho giáo dục không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà của toàn xã hội; Nhà nước chịu trách nhiệm chính, huy động sự tham gia của cộng đồng, của tổ chức, cá nhân và gia đình tham gia đầu tư cho giáo dục.
Tuy nhiên, mô hình đầu tư cho giáo dục ở mỗi quốc gia có những điểm khác nhau đáng kể tùy vào chương trình, chính sách giáo dục ở mỗi nước. Các nước trên thế giới sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau với các nội dung ít nhiều khác nhau để chỉ việc huy động các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động giáo dục như sự huy động (mobilization), sự tham gia (participation), tư nhân hóa (privatization), sự phân quyền (decentralization), còn ở Việt Nam ta thường dùng từ xã hội hóa (socialization). Từ yêu cầu và hoàn cảnh của mỗi quốc gia mà họ thực hiện các nội dung, hình thức khác nhau. Tuy nhiên, nét chung ở các nước là, đều khẳng định sự cần thiết có sự tham gia của xã hội vào phát triển giáo dục (Võ Tấn Quang, 2001).
Nhiều nghiên cứu, bài viết của các chuyên gia, các giáo sư trên khắp thế giới cho ta thấy tổng quan về mô hình huy động trách nhiệm, sự tham gia của cộng đồng vào phát triển giáo dục. Rất nhiều các bài viết về mô hình trên được đăng tải trên mạng internet giúp chúng ta có thể nghiên cứu để thấy được các chương trình, chính sách giáo dục khác nhau ở các nước trên thế giới thể hiện sự chuyển giao trách Luan van 9 nhiệm đầu tư cho giáo dục của nhà nước sang các tổ chức, cá nhân. Belfield và Henry M. Levin, ở các nước Mĩ, Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ, Phi-lip-pin, Anh, giáo dục được cung cấp hoặc tài trợ bởi các tổ chức, cá nhân (Clive and Henry, 2002).
Tác giả Mitsue Uemura trong bài viết "Sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục: Chúng ta biết những gì?" (Community Participation in Education: What do we know?) cho rằng, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những cách khác nhau mà cộng đồng tham gia vào giáo dục, cung cấp các kênh cụ thể mà qua đó, cộng đồng tham gia vào giáo dục trẻ em (Mitsue Uemura, 1999). Cùng với những bài viết của các tác giả nước ngoài, nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng nghiên cứu về cách thức thực hiện xã hội hóa của các quốc gia trên thế giới như Võ Tấn Quang, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Minh Phương,. Theo nghiên cứu của Võ Tấn Quang, Ấn Độ gắn vấn đề huy động xã hội cùng tham gia giáo dục với phát triển nông thôn, tập trung vào đào tạo nghề, tìm việc làm với nâng cao trình độ văn hóa phổ thông. Cũng theo Võ Tấn Quang, Indonesia đặc biệt quan tâm giáo dục phi chính quy với sự tham gia của cộng đồng, một hình thức tham gia của xã hội là lập "Quỹ học tập" để lo việc học cho thanh thiếu niên và cho người lớn.
Theo Nguyễn Minh Phương, Hàn Quốc thực hiện mô hình phát triển giáo dục dựa trên nguyên tắc chia sẻ chi phí giữa Nhà nước và nhân dân, trong đó chi phí tư nhân cho giáo dục cao hơn chi phí công. Chính phủ và địa phương tài trợ ngân sách cho các trường tư đồng thời tăng cường quyền tự chủ tài chính cho họ. Ngoài nguồn tài trợ của chính phủ trung ương và địa phương, các trường tư ở Hàn Quốc huy động nguồn tài chính chủ yếu là lệ phí nhập học và học phí. Đối với các trường công ở địa phương, chính phủ Hàn Quốc tạo điều kiện cho các địa phương, cơ sở giáo dục, đào tạo thu hút các thành phần xã hội, các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư tài chính, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như trí lực vào phát triển cải cách giáo dục (Nguyễn Minh Phương, 2012).
Thái Lan thực hiện nhiều hình thức huy động nguồn lực đầu tư, hỗ trợ tài chính cho mục đích phát triển giáo dục. Ngoài việc nhà nước và các cơ quan hành chính địa phương được ủy quyền để thu các khoản thuế giáo dục để tổ chức các hoạt Luan van 10 động giáo dục thì tất cả mọi tổ chức, cá nhân như đội ngũ giáo viên, người quản lí trong các cơ sở giáo dục, tổ chức tư nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan hành chính địa phương, cơ quan chuyên môn, tổ chức tôn giáo, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội khác đều được khuyến khích tham gia đóng góp nguồn lực cho giáo dục bằng hình thức tài trợ tài sản và các nguồn lực khác cho các tổ chức giáo dục, nhằm chia sẻ những chi phí hợp lí và cần thiết trong hoạt động giáo dục. Để khuyến khích, động viên các cá nhân, tổ chức trên tham gia tài trợ nguồn lực cho giáo dục, nhà nước và các cơ quan hành chính hỗ trợ, miễn, giảm cho họ các mức thuế phù hợp và cần thiết theo quy định của pháp luật (Nguyễn Minh Phương, 2012). Ở Nhật Bản, khi thực hiện XHHGD, nhà nước đưa ra chính sách “không để trẻ em nào trong gia đình và không để gia đình nào trong cộng đồng không được giáo dục”.
Nhà nước Nhật Bản đã xây dựng hệ thống chính sách XHHGD như: “Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Hiện nay, nguồn ngân sách đầu tư cho giáo dục của Nhật Bản chiếm 6,8% GDP. Các trường tư cũng được nhà nước cấp 10% ngân sách” (Bùi Minh Hiền, 2016). Ngoài ra, giáo dục còn nhận được đầu tư từ ngân sách địa phương, từ các doanh nghiệp, công ty, từ đóng góp của người học.
Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản còn chú trọng tăng cường giáo dục gia đình và cộng đồng nhằm giúp nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh phát triển tình cảm và ý thức xã hội (Nguyễn Minh Phương, 2012). Ở Trung Quốc, từ những năm 1980, chiến lược “khoa giáo hưng quốc” được thực hiện, đây là khởi đầu của phong trào XHHGD một cách mạnh mẽ ở nước này. Đảng Cộng sản Trung Quốc kêu gọi cả nước phấn đấu vì một nền giáo dục mới. Phong trào XHHGD được người dân hưởng ứng với hàng loạt các trường tư thục, các trung tâm đào tạo, liên kết đào tạo ngoài công lập ra đời.
Từ khi thông tư của Quốc Vụ viện Trung Quốc ban hành yêu cầu Bộ Giáo dục từng bước đẩy nhanh công tác xã hội hóa với công tác giáo dục ở các cấp vào năm 2000 thì tỉ lệ trường ngoài công lập so với trường công lập đều tăng dần theo các năm. Cụ thể năm 2006, tỉ lệ trường sơ trung (trung học cơ sở) ngoài công lập ở Trung Quốc chiếm 6,61% nhưng đến năm 2008 tăng lên 7,67%, tăng hơn 1% chỉ trong 2 năm (Nguyễn Minh Phương, 2012). Luan van 11 Ở Hoa Kỳ, ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, Hiến pháp đã quy định việc trưng thu thuế giáo dục, trách nhiệm huy động ngân sách cho giáo dục là thuộc về ủy ban giáo dục bang, các quận. “Nhà nước chi 10%, còn 90% ngân sách giáo dục là do bang và địa phương đảm trách.
Ngoài ra, có khoản 20% các cơ sở giáo dục do các tập đoàn công nghiệp, công ty, quỹ tư nhân tài trợ (Bùi Minh Hiền, 2016). Ngoài ra, một số công trình tiêu biểu khác cũng đã đề cập đến vai trò của các lực lượng xã hội trong việc tham gia vào sự nghiệp phát triển nhà trường như: Thanomwan Prasertcharoensuk và Napinrat Tapkhwa trong bài viết “Sự cộng tác của nhà trường, phụ huynh và cộng đồng giúp nâng cao việc học tập của học sinh ở Thái Lan” (Schools, parents, and community partnership enhancing students’ learning in Thailand”; Tác giả Verger, A. với bài viết “Tư hữu hóa giáo dục: Một hình thức kinh tế chính trị của sự cải cách giáo dục toàn cầu” (The Privatization of Education: A Political Economy of Global Education Reform). Các công trình này đã cho ta thấy giải pháp đổi mới giáo dục thông qua sự tham gia của các lực lượng xã hội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường và kết quả học tập của học sinh là điều mà các nước trên thế giới đã và đang làm thành công.
Các nghiên cứu và mô hình tham gia XHHGD của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng trên khắp thế giới vào phát triển giáo dục và một số kinh nghiệm trong biện pháp tổ chức quản lí công tác XHHGD của nhà trường ở một số nước trên thế giới có thể giúp chúng ta nghiên cứu, vận dụng vào các nhà trường THCS ở Việt Nam hiện nay. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, mục tiêu giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, quan điểm “Xã hội hóa” trở thành một trong những quan điểm lớn để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” (Đảng Cộng sản Luan van 12 Việt Nam, 1998).
Đến Đại hội lần thứ XII của Đảng vừa qua, Đảng ta đề ra nhiệm vụ: “Từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; thực hiện cơ chế thị trường và đẩy mạnh xã hội hóa đối với cung cấp các dịch vụ công” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016).