phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương: trong chƣơng 1 bàn về tổng quan tình hình nghiên cứu công tác xã hội đối 14 với học sinh nghiện internet; chƣơng 2 bàn về cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet; chƣơng 3 phân tích thực trạng học sinh nghiện internet và công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet từ thực tiễn tỉnh Bình Định; chƣơng 4 đề cập đến việc thực nghiệm phương pháp công tác xã hội với cá nhân trong can thiệp với học sinh bị nghiện internet và các biện pháp thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet từ thực tiễn tỉnh Bình Định. 15 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỌC SINH NGHIỆN INTERNET 1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Những nghiên cứu về nghiện internet 1.
Nghiên cứu về thực trạng nghiện internet ở thanh thiếu niên, học sinh Nghiện Internet lần đầu tiên được đề cập vào năm 1996 bởi nhà tâm lý học người Mỹ Kimberly Young trong nghiên cứu “Nghiện Internet: Sự xuất hiện của một chứng rối loạn lâm sàng mới” trình bày tại Hội nghị thường niên lần thứ 104 của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ; 11 tháng 8 năm 1996. Nghiên cứu của Young đã khảo sát 596 trường hợp người sử dụng internet dựa trên bảng câu hỏi chẩn đoán về cờ bạc bệnh lý trong Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần - Ấn bản thứ tư (DSM-IV) của Hòa Kỳ [165]. Sau nghiên cứu của Young, đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề nghiện internet ở thanh thiếu niên và học sinh được thực hiện ở phạm vi quốc gia và lãnh thổ khác nhau. Ở Hoa Kỳ, theo tổng hợp từ nghiên cứu của Lê Minh Công (2016) cho thấy tỷ lệ nghiện internet ở thanh thiếu niên là tương đối phổ biến, chẳng hạn trong nghiên cứu của Greenfield (1999) tỷ lệ nghiện internet là 5,6%; Morahan và cộng sự (2000) là 8,1%; Yuen - Lavin (2001) là 15,9%; Fortson và cộng sự (2007) có 26,3% [4].
Ở Châu Âu, trong một nghiên cứu của Durkee và cộng sự (2012) ở 11 quốc gia Châu Âu với tổng số người tham gia khảo sát là 11.956 thanh thiếu niên được chọn ngẫu nhiên ở các trường, cho thấy tỷ lệ nghiện internet là 4,4%; tỷ lệ này ở nam cao hơn nữ và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các quốc gia. Nghiên cứu chỉ ra những loại nghiện trên internet chủ yếu là nghiện xem video, truy cập phòng trò chuyện và mạng xã hội; chơi trò chơi trực tuyến; tỷ lệ học sinh sống ở đô thị nghiện cao hơn những học sinh sống vùng nông thôn; học sinh không sống với cha mẹ ruột, ít có sự quản lý của cha mẹ có nguy cơ nghiện internet tương đối cao [98]. Cũng ở các nước Châu Âu, nghiên cứu của Kaess và cộng sự (2016) thực hiện khảo sát trong hai năm học là 2009/2010 và 2011/2012 ở năm quốc gia châu Âu với tổng số là 5.839 thanh thiếu niên đang theo học ở các trường trung học, cho thấy tỷ lệ nghiện internet ở học sinh là không ngừng tăng trong hai năm học (từ 4,01% lên 6,87%), những học sinh có nguy cơ nghiện tăng tăng từ 13,34% đến 17,57%; học sinh nam có mức nghiện internet cao hơn nữ giới [117]. Năm 2014, hai tác giả Cheng và Li đã thực hiện một nghiên cứu có quy mô 16 lớn bao gồm 89.281 người từ 31 quốc gia ở bảy khu vực thế giới, cho kết quả tỷ lệ nghiện internet là 6,0%.
Trong đó, tỷ lệ bị nghiện cao nhất nhất là ở Trung Đông với 10,9%, và thấp nhất là ở Bắc và Tây Âu với 2,6% [90]. Một số quốc gia có tỷ lệ thanh thiếu niên và học sinh nghiện internet cao như Thổ Nhì Kỳ hay Croatia. Chẳng hạn, ở Thổ Nhĩ Kỳ, trong nghiên cứu của Tayyar và cộng sự (2014) với 1156 học sinh từ các lớp 9, 10, 11, 12, có 15,1% học sinh được xếp vào nhóm nghiện Internet (9,3% ở nữ và cao tới 20,4% ở nam); tỷ lệ nghiện Internet ở học sinh lớp 9, 10 và 11 lần lượt là 18,0, 17,3 và 10,4% [145]. Ở Croatia, trong nghiên cứu được thực hiện bởi Miskulin và cộng sự năm 2018 cho thấy tình trạng nghiện Internet rất phổ biến ở sinh viên các trường đại học Croatia.
Nhóm tác giả cũng kết luận có sự khác biệt về giới tính trong nghiện internet, trong đó sinh viên nam nghiện cao hơn nữ sinh viên [131]. Ở Châu Á, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của mạng internet thì tỷ lệ giới trẻ nghiện internet trong nhiều năm qua cũng được đánh giá là khá cao. Ở Trung Quốc, các tác giả Zhang, Li (2014) với nghiên cứu 24.013 học sinh từ lớp 4 đến lớp 9 được tuyển chọn từ 100 quận ở 31 tỉnh ở Trung Quốc, chỉ ra rằng tỷ lệ nghiện Internet trong tổng số mẫu là 6,3% và ở người dùng Internet là 11,7%. Tỷ lệ nghiện Internet ở học sinh tiểu học (11,5%) thấp hơn không đáng kể so với tỷ lệ học sinh trung học cơ sở (11,9%).
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa bốn vùng địa lý đặc trưng bởi các mức độ khác nhau về kinh tế, y tế, giáo dục và môi trường xã hội [122]. Ở Hàn Quốc, nghiên cứu của Jang và cộng sự (2008) khảo sát 912 học sinh từ lớp 7 đến lớp 12 ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông ở Seoul cho thấy có 30% HS nghiện Internet [114]. Ở Nhật Bản, nghiên cứu được thực hiện trực tuyến về thói quen sử dụng Internet, từ tháng 2 năm 2013 của Hashimoto Yoshiaki với 2.605 người tham gia, từ học sinh tiểu học đến người lớn đi làm dưới 25 tuổi, cho thấy một tỷ lệ đáng kể những người có nguy cơ cao nghiện Internet: 2,3% học sinh tiểu học, 7,6% học sinh trung học cơ sở, 9,2% học sinh trung học phổ thông, 6,1% sinh viên đại học và 6,2 % người lớn đi làm [169]. Ở Đài Loan, trong nghiên cứu 680 học sinh thì có đến 17,9% học sinh bị nghiện Internet [159].
Ở Ấn Độ, một nghiên cứu cắt ngang năm 2013 được thực hiện trên 987 thanh thiếu niên ở Mumbai cho thấy nam giới nghiện nhiều hơn đáng kể so với nữ giới [107]. Tại Đông Nam Á, nghiên cứu của Chia và cộng sự (2020) [96] cho thấy tỷ lệ nghiện internet ở giới trẻ hiện nay là tương đối cao, được thể hiện ở bảng tổng hợp dưới đây: 17 Bảng 1.1: Tỷ lệ nghiện internet ở một số quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á Tác giả Quốc gia Cỡ Tỷ lệ Năm Công cụ chẩn đoán mẫu nghiện internet Boonvisudhi và Thái Lan 705 24,4% 2017 Phát triển bởi Young (1998) [162] CS (2017) [87] Ching và Malaysia 426 36,9% Phát triển bởi Young (1998) [162] CS (2017) [92] Mak và CS Phi-líp- 999 4,9% 2012 Phát triển bởi Chen (CIAS-R) [126] (2014b) [127] pin Subramaniam và Singapore 2735 17,1% 2008 Công cụ sàng lọc 10 mục dựa trên Cờ CS (2008) [135] bạc bệnh lý DSM-IV [99] Tran và Việt Nam 566 21,2% 2017 Phát triển bởi Pawlikowski và cộng sự CS (2017a) [95] (2013) [139]. Siste và Indonesia 231 38,5% 2018 Phiên bản IAT của Indonesia [150] CS (2018a) [150] Turnbull và Myanmar 386 16,1% 2018 Công cụ đánh giá việc sử dụng CS (2018c) [160] Internet có vấn đề ở trẻ vị thành niên (YDQ) của Wartberg và CS (2016) [162] Tổng hợp các nghiên cứu nêu trên cho thấy vấn đề nghiện internet là chủ đề thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học. Các nghiên cứu dù tiếp cận dưới nhiều góc độ, phương pháp, mục đích khác nhau song đều chỉ ra mức độ nghiện internet của người dùng hiện nay rất phổ biến, trong đó lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh được đánh giá là nhóm bị nghiện tương đối nhiều và có nguy cơ nghiện sẽ chuyển biến cao hơn nếu không có những giải pháp tích cực.
Những nghiên cứu về hậu quả của nghiện internet Ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm thần đối với cá nhân người sử dụng Có nhiều nghiên cứu cho thấy nghiện internet có ảnh hưởng rất nhiều đến vấn đề sức khỏe cá nhân. Nghiên cứu của Siste và CS (2021) về nghiện internet trong đại dịch Covid-19 ở Indonesia đã tiến hành khảo sát trực tuyến 2.932 thanh thiếu niên đến từ 33 trong số 34 tỉnh thành. Kết quả cho thấy tỷ lệ phổ biến nghiện internet ở thanh thiếu niên Indonesia trong đợt bùng phát COVID-19 là 19,3% cao hơn so với những người lớn. Nghiên cứu cũng phát hiện về thời lượng sử dụng Internet tăng lên, hành vi xã hội thấp và rối loạn giấc ngủ được coi là các yếu tố nguy cơ của nghiện internet [149].
18 Nghiên cứu bởi Feizy (2020) ở 300 sinh viên điều dưỡng đại học Iran cho thấy, nghiện Internet gây nguy hiểm cho sức khỏe tinh thần và thể chất của người nghiện [102]. Phát hiện khác của Bernardi (2009) cho thấy trong số những người bị nghiện được chẩn đoán có 14% thiếu chú ý và rối loạn tăng động, 7% giảm hưng phấn, 15% rối loạn lo âu toàn thân, 15% rối loạn lo âu xã hội; 7% rối loạn chức năng máu, 7% ám ảnh cưỡng chế tính cách rối loạn, 14% rối loạn nhân cách ranh giới và 7% rối loạn nhân cách tránh né [85, tr. Nghiên cứu khác của Yen và cộng sự (2014) thấy rằng hơn một phần ba thanh thiếu niên nghiện internet có biểu hiện của rối loạn lo âu, và rối loạn lo âu tổng quát nhưng không ám ảnh xã hội; từ 5% đến 40% đáp ứng các tiêu chí trầm cảm nặng (Yen et al. Javaeed và cộng sự (2019) đã phát hiện rằng trong 210 thanh thiếu niên ở Ấn độ tham gia trả lời có mối tương quan thuận nhẹ giữa nghiện internet và trầm cảm và loại tương quan tương tự cũng được quan sát giữa nghiện internet và căng thẳng [115].
Trong khi đó, nghiên cứu của Choi và cộng sự (2009) với 2336 học sinh trung học ở Hàn Quốc cho thấy những học sinh nghiện internet thường sử dụng rượu, hút thuốc lá và tình trạng sức khỏe kém hơn so với học sinh không nghiện; 35,9% có các triệu chứng mất ngủ [93]. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy những hậu quả tương tự như “mắc đồng thời với chứng tăng động” ([121], Georgios, et al, 2011) ; cảm giác “buồn ngủ ban ngày quá mức và các vấn đề về giấc ngủ khác” (Singh, Lokesh Kumar, et al, 2019; Lin, Pin-Hsuan, et al, 2019) [147], [124]; “mắc chứng rối loạn ăn uống” (Rodgers, Rachel F., et al, 2013; Hinojo-Lucena, Francisco-Javier, et al, 2019) [111].