Luận Án Tiến Sĩ Về Công Tác Xã Hội Dành Cho Học Sinh Nghiện Internet Từ Thực Tiễn Tỉnh Bình Định

Luận án tiến sĩ nghiên cứu công tác xã hội hỗ trợ học sinh nghiện internet tại Bình Định, đề xuất giải pháp hiệu quả từ thực tiễn.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

230
2
1

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước về công tác xã hộihọc sinh nghiện internet. Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng nghiện internet là một vấn đề toàn cầu, đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Trong khi đó, các nghiên cứu trong nước tập trung vào thực trạng và giải pháp can thiệp tại Việt Nam. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc áp dụng công tác xã hội để hỗ trợ học sinh nghiện internet, đặc biệt tại tỉnh Bình Định.

1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

Các nghiên cứu quốc tế đã xác định nghiện internet là một dạng rối loạn hành vi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần và học tập của học sinh. Các giải pháp can thiệp bao gồm tư vấn học sinh, giáo dục kỹ năng sống, và hỗ trợ gia đình.

1.2. Nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào thực trạng nghiện internet ở học sinh và đề xuất các giải pháp như phòng chống nghiện internet, can thiệp xã hội, và hỗ trợ học sinh thông qua các chương trình giáo dục và tư vấn.

II. Cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet

Luận án đưa ra các khái niệm liên quan đến nghiện internet, học sinh nghiện internet, và công tác xã hội. Các biểu hiện của nghiện internet bao gồm sự lệ thuộc vào internet, giảm hiệu suất học tập, và các vấn đề tâm lý. Công tác xã hội được xem là một phương pháp hiệu quả để can thiệp và hỗ trợ học sinh nghiện internet thông qua các hoạt động như tư vấn học sinh, giáo dục kỹ năng, và kết nối gia đình.

2.1. Khái niệm và biểu hiện của nghiện internet

Nghiện internet được định nghĩa là sự lệ thuộc vào internet, dẫn đến các hậu quả tiêu cực về sức khỏe, học tập, và các mối quan hệ xã hội. Các biểu hiện bao gồm sử dụng internet quá mức, khó kiểm soát thời gian, và các triệu chứng tâm lý như lo âu, trầm cảm.

2.2. Lý luận về công tác xã hội

Công tác xã hội là một phương pháp can thiệp dựa trên các nguyên tắc như tôn trọng cá nhân, bảo mật, và sự tham gia của cộng đồng. Các hoạt động bao gồm tư vấn học sinh, giáo dục kỹ năng sống, và hỗ trợ gia đình để giúp học sinh vượt qua nghiện internet.

III. Thực trạng công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet tại Bình Định

Luận án khảo sát thực trạng nghiện internet ở học sinh trung học cơ sở tại Bình Định. Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh nghiện internet khá cao, đặc biệt ở các khu vực có nhiều tiệm internet. Các hoạt động công tác xã hội như tư vấn học sinh, giáo dục kỹ năng, và hỗ trợ gia đình đã được triển khai nhưng còn hạn chế về hiệu quả.

3.1. Thực trạng nghiện internet ở học sinh

Khảo sát cho thấy tỷ lệ học sinh nghiện internet tại Bình Định chiếm khoảng 20%, với các biểu hiện như sử dụng internet quá mức, giảm hiệu suất học tập, và các vấn đề tâm lý. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm thiếu sự giám sát của gia đình và sự hấp dẫn của các trò chơi trực tuyến.

3.2. Hoạt động công tác xã hội

Các hoạt động công tác xã hội như tư vấn học sinh, giáo dục kỹ năng sống, và hỗ trợ gia đình đã được triển khai tại các trường học. Tuy nhiên, hiệu quả còn hạn chế do thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet

Luận án đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet tại Bình Định. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện hệ thống chính sách, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên công tác xã hội, và tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng.

4.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách

Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ công tác xã hội trong trường học, bao gồm việc đào tạo nhân viên công tác xã hội và cung cấp nguồn lực tài chính.

4.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên

Đào tạo và nâng cao kỹ năng cho nhân viên công tác xã hội để họ có thể thực hiện hiệu quả các hoạt động tư vấn học sinh, giáo dục kỹ năng, và hỗ trợ gia đình.

4.3. Tăng cường sự phối hợp

Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để tạo ra một môi trường hỗ trợ toàn diện cho học sinh nghiện internet.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet từ thực tiễn tỉnh bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương: trong chƣơng 1 bàn về tổng quan tình hình nghiên cứu công tác xã hội đối 14 với học sinh nghiện internet; chƣơng 2 bàn về cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet; chƣơng 3 phân tích thực trạng học sinh nghiện internet và công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet từ thực tiễn tỉnh Bình Định; chƣơng 4 đề cập đến việc thực nghiệm phương pháp công tác xã hội với cá nhân trong can thiệp với học sinh bị nghiện internet và các biện pháp thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội đối với học sinh nghiện internet từ thực tiễn tỉnh Bình Định. 15 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỌC SINH NGHIỆN INTERNET 1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Những nghiên cứu về nghiện internet 1.

Nghiên cứu về thực trạng nghiện internet ở thanh thiếu niên, học sinh Nghiện Internet lần đầu tiên được đề cập vào năm 1996 bởi nhà tâm lý học người Mỹ Kimberly Young trong nghiên cứu “Nghiện Internet: Sự xuất hiện của một chứng rối loạn lâm sàng mới” trình bày tại Hội nghị thường niên lần thứ 104 của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ; 11 tháng 8 năm 1996. Nghiên cứu của Young đã khảo sát 596 trường hợp người sử dụng internet dựa trên bảng câu hỏi chẩn đoán về cờ bạc bệnh lý trong Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần - Ấn bản thứ tư (DSM-IV) của Hòa Kỳ [165]. Sau nghiên cứu của Young, đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề nghiện internet ở thanh thiếu niên và học sinh được thực hiện ở phạm vi quốc gia và lãnh thổ khác nhau. Ở Hoa Kỳ, theo tổng hợp từ nghiên cứu của Lê Minh Công (2016) cho thấy tỷ lệ nghiện internet ở thanh thiếu niên là tương đối phổ biến, chẳng hạn trong nghiên cứu của Greenfield (1999) tỷ lệ nghiện internet là 5,6%; Morahan và cộng sự (2000) là 8,1%; Yuen - Lavin (2001) là 15,9%; Fortson và cộng sự (2007) có 26,3% [4].

Ở Châu Âu, trong một nghiên cứu của Durkee và cộng sự (2012) ở 11 quốc gia Châu Âu với tổng số người tham gia khảo sát là 11.956 thanh thiếu niên được chọn ngẫu nhiên ở các trường, cho thấy tỷ lệ nghiện internet là 4,4%; tỷ lệ này ở nam cao hơn nữ và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các quốc gia. Nghiên cứu chỉ ra những loại nghiện trên internet chủ yếu là nghiện xem video, truy cập phòng trò chuyện và mạng xã hội; chơi trò chơi trực tuyến; tỷ lệ học sinh sống ở đô thị nghiện cao hơn những học sinh sống vùng nông thôn; học sinh không sống với cha mẹ ruột, ít có sự quản lý của cha mẹ có nguy cơ nghiện internet tương đối cao [98]. Cũng ở các nước Châu Âu, nghiên cứu của Kaess và cộng sự (2016) thực hiện khảo sát trong hai năm học là 2009/2010 và 2011/2012 ở năm quốc gia châu Âu với tổng số là 5.839 thanh thiếu niên đang theo học ở các trường trung học, cho thấy tỷ lệ nghiện internet ở học sinh là không ngừng tăng trong hai năm học (từ 4,01% lên 6,87%), những học sinh có nguy cơ nghiện tăng tăng từ 13,34% đến 17,57%; học sinh nam có mức nghiện internet cao hơn nữ giới [117]. Năm 2014, hai tác giả Cheng và Li đã thực hiện một nghiên cứu có quy mô 16 lớn bao gồm 89.281 người từ 31 quốc gia ở bảy khu vực thế giới, cho kết quả tỷ lệ nghiện internet là 6,0%.

Trong đó, tỷ lệ bị nghiện cao nhất nhất là ở Trung Đông với 10,9%, và thấp nhất là ở Bắc và Tây Âu với 2,6% [90]. Một số quốc gia có tỷ lệ thanh thiếu niên và học sinh nghiện internet cao như Thổ Nhì Kỳ hay Croatia. Chẳng hạn, ở Thổ Nhĩ Kỳ, trong nghiên cứu của Tayyar và cộng sự (2014) với 1156 học sinh từ các lớp 9, 10, 11, 12, có 15,1% học sinh được xếp vào nhóm nghiện Internet (9,3% ở nữ và cao tới 20,4% ở nam); tỷ lệ nghiện Internet ở học sinh lớp 9, 10 và 11 lần lượt là 18,0, 17,3 và 10,4% [145]. Ở Croatia, trong nghiên cứu được thực hiện bởi Miskulin và cộng sự năm 2018 cho thấy tình trạng nghiện Internet rất phổ biến ở sinh viên các trường đại học Croatia.

Nhóm tác giả cũng kết luận có sự khác biệt về giới tính trong nghiện internet, trong đó sinh viên nam nghiện cao hơn nữ sinh viên [131]. Ở Châu Á, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của mạng internet thì tỷ lệ giới trẻ nghiện internet trong nhiều năm qua cũng được đánh giá là khá cao. Ở Trung Quốc, các tác giả Zhang, Li (2014) với nghiên cứu 24.013 học sinh từ lớp 4 đến lớp 9 được tuyển chọn từ 100 quận ở 31 tỉnh ở Trung Quốc, chỉ ra rằng tỷ lệ nghiện Internet trong tổng số mẫu là 6,3% và ở người dùng Internet là 11,7%. Tỷ lệ nghiện Internet ở học sinh tiểu học (11,5%) thấp hơn không đáng kể so với tỷ lệ học sinh trung học cơ sở (11,9%).

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa bốn vùng địa lý đặc trưng bởi các mức độ khác nhau về kinh tế, y tế, giáo dục và môi trường xã hội [122]. Ở Hàn Quốc, nghiên cứu của Jang và cộng sự (2008) khảo sát 912 học sinh từ lớp 7 đến lớp 12 ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông ở Seoul cho thấy có 30% HS nghiện Internet [114]. Ở Nhật Bản, nghiên cứu được thực hiện trực tuyến về thói quen sử dụng Internet, từ tháng 2 năm 2013 của Hashimoto Yoshiaki với 2.605 người tham gia, từ học sinh tiểu học đến người lớn đi làm dưới 25 tuổi, cho thấy một tỷ lệ đáng kể những người có nguy cơ cao nghiện Internet: 2,3% học sinh tiểu học, 7,6% học sinh trung học cơ sở, 9,2% học sinh trung học phổ thông, 6,1% sinh viên đại học và 6,2 % người lớn đi làm [169]. Ở Đài Loan, trong nghiên cứu 680 học sinh thì có đến 17,9% học sinh bị nghiện Internet [159].

Ở Ấn Độ, một nghiên cứu cắt ngang năm 2013 được thực hiện trên 987 thanh thiếu niên ở Mumbai cho thấy nam giới nghiện nhiều hơn đáng kể so với nữ giới [107]. Tại Đông Nam Á, nghiên cứu của Chia và cộng sự (2020) [96] cho thấy tỷ lệ nghiện internet ở giới trẻ hiện nay là tương đối cao, được thể hiện ở bảng tổng hợp dưới đây: 17 Bảng 1.1: Tỷ lệ nghiện internet ở một số quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á Tác giả Quốc gia Cỡ Tỷ lệ Năm Công cụ chẩn đoán mẫu nghiện internet Boonvisudhi và Thái Lan 705 24,4% 2017 Phát triển bởi Young (1998) [162] CS (2017) [87] Ching và Malaysia 426 36,9% Phát triển bởi Young (1998) [162] CS (2017) [92] Mak và CS Phi-líp- 999 4,9% 2012 Phát triển bởi Chen (CIAS-R) [126] (2014b) [127] pin Subramaniam và Singapore 2735 17,1% 2008 Công cụ sàng lọc 10 mục dựa trên Cờ CS (2008) [135] bạc bệnh lý DSM-IV [99] Tran và Việt Nam 566 21,2% 2017 Phát triển bởi Pawlikowski và cộng sự CS (2017a) [95] (2013) [139]. Siste và Indonesia 231 38,5% 2018 Phiên bản IAT của Indonesia [150] CS (2018a) [150] Turnbull và Myanmar 386 16,1% 2018 Công cụ đánh giá việc sử dụng CS (2018c) [160] Internet có vấn đề ở trẻ vị thành niên (YDQ) của Wartberg và CS (2016) [162] Tổng hợp các nghiên cứu nêu trên cho thấy vấn đề nghiện internet là chủ đề thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học. Các nghiên cứu dù tiếp cận dưới nhiều góc độ, phương pháp, mục đích khác nhau song đều chỉ ra mức độ nghiện internet của người dùng hiện nay rất phổ biến, trong đó lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh được đánh giá là nhóm bị nghiện tương đối nhiều và có nguy cơ nghiện sẽ chuyển biến cao hơn nếu không có những giải pháp tích cực.

Những nghiên cứu về hậu quả của nghiện internet Ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm thần đối với cá nhân người sử dụng Có nhiều nghiên cứu cho thấy nghiện internet có ảnh hưởng rất nhiều đến vấn đề sức khỏe cá nhân. Nghiên cứu của Siste và CS (2021) về nghiện internet trong đại dịch Covid-19 ở Indonesia đã tiến hành khảo sát trực tuyến 2.932 thanh thiếu niên đến từ 33 trong số 34 tỉnh thành. Kết quả cho thấy tỷ lệ phổ biến nghiện internet ở thanh thiếu niên Indonesia trong đợt bùng phát COVID-19 là 19,3% cao hơn so với những người lớn. Nghiên cứu cũng phát hiện về thời lượng sử dụng Internet tăng lên, hành vi xã hội thấp và rối loạn giấc ngủ được coi là các yếu tố nguy cơ của nghiện internet [149].

18 Nghiên cứu bởi Feizy (2020) ở 300 sinh viên điều dưỡng đại học Iran cho thấy, nghiện Internet gây nguy hiểm cho sức khỏe tinh thần và thể chất của người nghiện [102]. Phát hiện khác của Bernardi (2009) cho thấy trong số những người bị nghiện được chẩn đoán có 14% thiếu chú ý và rối loạn tăng động, 7% giảm hưng phấn, 15% rối loạn lo âu toàn thân, 15% rối loạn lo âu xã hội; 7% rối loạn chức năng máu, 7% ám ảnh cưỡng chế tính cách rối loạn, 14% rối loạn nhân cách ranh giới và 7% rối loạn nhân cách tránh né [85, tr. Nghiên cứu khác của Yen và cộng sự (2014) thấy rằng hơn một phần ba thanh thiếu niên nghiện internet có biểu hiện của rối loạn lo âu, và rối loạn lo âu tổng quát nhưng không ám ảnh xã hội; từ 5% đến 40% đáp ứng các tiêu chí trầm cảm nặng (Yen et al. Javaeed và cộng sự (2019) đã phát hiện rằng trong 210 thanh thiếu niên ở Ấn độ tham gia trả lời có mối tương quan thuận nhẹ giữa nghiện internet và trầm cảm và loại tương quan tương tự cũng được quan sát giữa nghiện internet và căng thẳng [115].

Trong khi đó, nghiên cứu của Choi và cộng sự (2009) với 2336 học sinh trung học ở Hàn Quốc cho thấy những học sinh nghiện internet thường sử dụng rượu, hút thuốc lá và tình trạng sức khỏe kém hơn so với học sinh không nghiện; 35,9% có các triệu chứng mất ngủ [93]. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy những hậu quả tương tự như “mắc đồng thời với chứng tăng động” ([121], Georgios, et al, 2011) ; cảm giác “buồn ngủ ban ngày quá mức và các vấn đề về giấc ngủ khác” (Singh, Lokesh Kumar, et al, 2019; Lin, Pin-Hsuan, et al, 2019) [147], [124]; “mắc chứng rối loạn ăn uống” (Rodgers, Rachel F., et al, 2013; Hinojo-Lucena, Francisco-Javier, et al, 2019) [111].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Án Tiến Sĩ: Công Tác Xã Hội Cho Học Sinh Nghiện Internet Tại Bình Định là một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nghiện internet ở học sinh và các giải pháp công tác xã hội nhằm hỗ trợ các em tại tỉnh Bình Định. Luận án không chỉ phân tích nguyên nhân, hậu quả của tình trạng này mà còn đề xuất các mô hình can thiệp hiệu quả, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và học tập của học sinh. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhân viên công tác xã hội và giáo viên quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về công tác xã hội trong trường học, bạn có thể tham khảo Luận án nhân viên công tác xã hội trong trường trung học cơ sở từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong môi trường giáo dục. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ công tác xã hội đối với tình trạng bạo lực học đường ở học sinh THCS cung cấp góc nhìn sâu sắc về cách ứng phó với các vấn đề xã hội phức tạp trong trường học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nhu cầu về hoạt động công tác xã hội trong trường trung học tại Hà Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nhu cầu và thách thức trong việc triển khai công tác xã hội tại các trường học. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của công tác xã hội trong giáo dục.