Chương 1: Cơ sở lý luận về thực trạng định hướng ứng phó với khó khăn của học sinh trung học phô thông. Tổng quan nghiên cứu về định hướng ứng phó với khó khăn của học sinh trung học phô thông tại Thành phó Hỗ Chi Minh. Cơ sở lý luận về định hướng ứng phó với khó khăn của học sinh trung học phô thông tại Thành phố Hỗ Chi Minh. Chương 2: Thực trạng định hướng ứng phó với khó khăn của học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hỗ Chí Minh.
Vải nét về khách thé nghiên cứu 2. Thực trạng định hướng ứng phó với khó khăn của học sinh trung học phô thông tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận và đề xuất 1. Đề xuất một số biện pháp phòng ngừa và hỗ trợ định hướng ứng phó với khó khan của học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THUC TRẠNG ĐỊNH HUONG ỨNG PHÓ VỚI KHÓ KHĂN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHÓ THÔNG. Tong quan nghiên cứu về định hướng ứng phó với khó khăn của học sinh trung học phô thông. Những nghiên cứu ngoài nước © Nghiên cứu thực trạng định hướng ứng phó và chiến lược ứng pho Nghiên cứu về chiến lược ứng phó thì tác giả Yadav & Suvidha (2019) đã xem xét 15 nghiên cứu ở Án Độ và nước ngoài trên thanh thiếu niên cho thấy trong 2 chiến lược được khảo sát thì thanh thiếu niên sử dụng các chiến lược ứng phó tập trung vào cảm xúc thường xuyên hơn các chiến lược ứng phó giải quyết vấn đề và sử dụng các công cụ hỗ trợ khi ứng phó với căng thăng, sự căng thăng được gây ra bởi các yêu tố từ trường hoc, các mỗi quan hệ, đời sông xã. khó khăn tải chính vả áp lực học tập.
Nghiên cứu vé chiến lược ứng phó của thanh thiếu niên ở trường trung học thì tac giả Cocoradă & Mihalascu (2012) đã nghiên cứu trên 186 học sinh từ 13 đến 19 tuôi, học sinh đến từ 2 trường công lập của khu vực thành thị (gồm hai lớp học sinh lớp 8, hai lớp học sinh lớp 9 và 2 lớp học sinh lớp 11). Trong đẻ tài này tác giả sử dụng thang đo “Dinh hướng déi phó với các van dé đã trải qua” do Carver, Scheier và Weintraub thiết kế vào năm 1989. Thang đo này gồm 53 câu hỏi va được chia thành 14 chiến lược ứng pho. Kết quả điềm trung bình cho thay các chiến lược ứng pho được sử dụng nhiều nhất là lập kế hoạch, diễn giải lại vấn đề theo chiều hướng tích cực, đối phó tích cực và tìm kiểm các công cụ hỗ trợ.
Những chiến lược này được coi là những chiến lược hiệu quả, tập trung vào việc giải quyết van dé. Vì vậy, ở tuổi thiếu niên, cách đối phó đa dạng hơn dẫn đến gia tăng sự hiệu quả. Nghiên cứu về cảm nhận căng thăng, cách déi phó và điều chỉnh ở thanh thiêu niên trên 286 khách thẻ là thanh thiếu niên từ ba trường trung học cơ sở ở Graz, Ao. Khách thê của nghiên cứu tập trung vào khoảng 10 đến 14 tuôi và sử dụng thang đo về xử lý căng thăng dành cho trẻ em và thanh thiểu niên của Đức (Stressverarbeitungsfragebogen fiir Kinder und Jugendliche, SVF-KJ) thang đo này bao gồm 36 phan ứng ứng phó va được chia thành 9 chiến lược đối phó.
mỗi chiến lược gồm 15 4 mục. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng học sinh lớp năm đạt điểm thấp hơn trong các chiến lược không thích ứng và các van dé bên ngoài, đồng thời nghiên cứu cũng chi ra rằng các chiến lược đối phó của học sinh lớp năm thích ứng kém hơn so với học sinh lớp sau và lớp bay (Hampel & Petermann, 2006). Theo nghiên cứu của Hashim (2007), tiến hành khảo sát trên 209 học sinh đến từ 2 trường ở Penang, Malaysia, cung cấp kết quả là học sinh đã sử dụng nhiều chiến lược đối phó khác nhau thích hợp tùy thuộc vào vấn đề. Những phát hiện này cho thấy các chiến lược khác nhau tập trung vào các khía cạnh khác nhau của vin đề và có thé có những tác động khác nhau.
Những người trả lời đường như sử dụng các chiến lược khá khác nhau tùy thuộc vào cách họ nhìn nhận van đề. Đối với những van đề liên quan đến tiền bạc, việc đôi phó dường như liên quan trực tiếp đến tiền bạc. Đối với các van dé liên quan đến sức khỏe, chiến lược đối phó là chăm sóc bản thân tốt hơn. Theo Cicognani (2011) nghiên cứu về Các chiến lược đối phó với những tác nhân gây căng thăng nhỏ ở tuôi vị thành niên với 342 khách thé là học sinh trung học (vị thành niên) tại Ý, độ tuôi dao động từ 14 đến 19 tuổi.
Nghiên cứu nảy được tác giả sử dụng thang đo ứng phó trong nhiều tình huéng (CASQ) của Seiffge_Krenke, 1995; thang do cảm nhận sự hỗ trợ xã hội (MSPSS) và bảng hỏi Berne về sức khỏe chủ quan của thanh thiếu niên của Grob và cộng su, 1991. Trong nghiên cứu này kết quả khảo sát chỉ ra rằng thanh thiểu niên nhìn chung thích giải quyết vấn đề bằng cách thảo luận chúng với cha mẹ: nhờ bạn bẻ giúp đỡ: suy nghĩ van dé và giải pháp và thé hiện sự hung hăng. Các chiến lược ít được lựa chọn trong nghiên cứu nay la tìm kiếm sự giúp đỡ trong các tô chức, trên các tap chí vả uỗng rượu, ma túy. Như vậy, tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về định hướng ứng phó, chiến lược ứng phó đã được thực hiện từ nhiều năm cách đây, và cũng đã khảo sát ở nhiều độ tuôi khác nhau từ tiêu học, trung học hoặc vị thành niên nói chung, kết quả nghiên cứu cũng được thực hiện ở các quốc gia khác nhau với các công cụ đo lường về sự ứng phó mang tính đa bình điện, gồm nhiều chiến lược ứng phó khác nhau.
Các nghiên cứu cũng cung cấp kết quả về chiến lược ứng phó nỏi bật giữa các khách thé khác nhau, sóng ở những khu vực văn hóa khác nhau có những khác biệt nhất định, cũng có nghiên cứu cho thấy việc sử dụng chiến lược ứng phó nào còn tủy thuộc vào van dé gặp phải là gì. 16 e Nehién cứu sự ứng phó theo các biển số nhân khâu học Nghiên cứu sự ứng phó theo giới tính Dién hình là nghiên cứu của Hampel & Petermann (2006) cho biết ring về môi liên hệ giữa giới tính và chiến lược đối phó của thanh thiếu niên trong nghiên cứu các bé gái đạt điểm cao hơn các bé trai về các chiến lược ứng phó không thích ứng và cảm xúc đau khô tuy nhiên lại đạt thấp cao hơn về kha năng mat tập trung so với các bé trai. Việc đối phó tập trung vào vấn đề và tập trung vào cảm xúc có liên quan tiêu cực đến các vấn đẻ vé cảm xúc và hành vi, trong khi đó căng thăng nhận thức và cách đối phó không thích ứng có liên quan tích cực đến các van đề về điều chỉnh. Những mối quan hệ này ở nữ mạnh mẽ hơn ở thanh thiểu niên nam.
Theo tác giả Cocoradä & Mihalascu (2012) có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê giữa nam sinh và nữ sinh trung học với một số chiến lược ứng phó như tìm kiểm sự hỗ trợ về mặt cảm xúc, phủ nhận và giải tỏa cảm xúc. Nhóm học sinh nữ có xu hướng cao hơn giá trị thu được ở nhóm nam. Theo Cicognani (2011) nghiên cứu về Các chiến lược đối phó với những tác nhân gây căng thăng nhỏ ở tuôi vị thành niên với 342 khách thé là học sinh trung học (vị thành niên) tại Ý, độ tudi dao động từ 14 đến 19 tuổi. Có sự khác biệt đáng kế về giới tính; cụ thê nữ giới có mức độ sử dụng một số chiến lược ứng phó ở mức cao hơn nam giới (thảo luận van dé với cha mẹ; nhờ bạn bè giúp đỡ và nhận sự giúp đỡ từ người có hoàn cảnh tương tự; suy nghĩ vẻ van dé và giải pháp; bộc lộ sự hung hăng: giận đữ và tuyệt vọng; rút lui khỏi tình huéng được xem là không thẻ thay đôi.
Nghiên cứu Reddy (2007) trên 100 sinh viên Cao đăng Dự bị Dai học (năm II) thuộc cả hai giới trong độ tuôi 16-19 cho thay cầu nguyện là chiến lược đối phó chính được cả hai giới sử dụng. Nam giới có mạng xã hội lớn hơn nữ giới. Nhiều người được hỏi đã cô gắng giải tỏa căng thang bằng cách cầu nguyện với than linh. điều nay cho thay tam quan trọng của tôn giáo trong nên văn hóa của chúng ta.
Đôi với các cậu bé, việc nghĩ ra những giải pháp thay thé la cách quan trọng thứ hai đẻ đôi phó với căng thăng. Đối với các cô gái, việc hỏi ý kiến bạn bè, người thân, bác sĩ và cô van là chiến lược đối phó quan trọng thứ hai. Những phát hiện này cho thấy rằng các bé trai sử dụng các phương pháp giải quyết van dé thường xuyên hơn các bé gái, những người 17 tim kiểm sự hỗ trợ xã hội va sử dụng các chiến lược đối phó tập trung vao cảm xúc. Mặc dù hau hết các tác nhân gây căng thang đều gợi ra cả hai kiều đối phó, những cách đối pho tập trung vào van đề có xu hướng chiếm ưu thé khi mọi người cám thay rằng có thé làm được điều gì đó mang tinh xây dung, trong khi cách đối pho tập trung vào cảm xúc có xu hướng chiếm ưu thé khi mọi người cảm thấy rằng tác nhân gây căng thăng là thứ phải chịu đựng.
Nghiên cứu sự ứng phó theo tuổi tác Cũng từ nghiên cứu của Cocorada & Mihalascu (2012) cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với những học sinh thuộc giai đoạn đầu và giữa tuôi vị thành niên, cụ thé sự bộc phát (giải toa) cảm xúc và sự thoải mái vẻ tinh thần, thường được ghi nhận ở các học sinh nhỏ tuổi (từ 13 đến 15 tuổi) hơn lứa tuôi khác. Kết quả của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cách đối phó kém hiệu quả hơn thường nhận thấy ở nhóm học sinh nhỏ tuôi hơn và với các chiến lược ứng pho tích cực hơn sẽ thường được ghi nhận ở nhóm học sinh lớn hơn. se Nghiên cứu mỗi liên hệ của định hướng ứng pho với các biến số khác. Nghiên cứu mỗi liên hệ sự ứng phó với 5 đặc điểm nhân cách lớn: Theo nghiên cứu của Sulaiman & cộng sự (2013) người trả lời bao gồm 315 người tham gia trong độ tuôi từ 18 đến 21, từ ba trường cao đăng cộng đồng ở thung lũng Klang, Malaysia.