N G U Y Ề N N G Ọ■ C PH Ú L Ị C H S Ử T Â M L Ý H Ộ C NHÀ XUÂT BÁN ĐAI HOC QUỐC GIA HÀ NÔI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ N Ộ I T R Ư Ờ N G Đ Ạ• I H Ọ• C K H O A H Ọ• C X Ã H Ộ• I V À N H Â N V Ă N G S .T S N G U Y Ễ N N G Ọ C PH Ú LịCH SỬ ■ TÃ Art IV HỌC (In lần thứ 2) NHÀ XUẤT B Ả N ĐẠI H Ọ C Q U Ố C G IA HÀ NỘI MỤC LỤC Trang L ời n ó i đ ầ u 5 N hập đề 7 Chương I Các tư tưởng tâm lý học thời kỳCổ đại 11 Chương II Các tư tưởng tâm lý học thời kỳTrungcổ 45 Chương III Các tư tưởng tâm lý học thời kỳ Phục hưng 63 Chương IV Các tư tưởng tâm lý học th ế kỷ XVII 79 Chương V Các tư tưởng tâm lý học th ế kỷ XVIII 95 Chương VI Các tư tưởng tâm lý học nửa đầu th ế 111 kỷ XIX Chương VII Sự ra đời của Tâm lý học với tư cách là 123 một khoa học độc lập Chương VIII Tâm lý học G estalt 143 Chương IX T â m lý h ọ c h à n h v i 167 Chương X Phân tâm học 181 Chương XI Sự hình thành và phát triển Tâm lý học 201 hoạt động Chương XII Sự h ì n h t h à n h v à p h á t t r i ể n T â m l ý h ọ c 223 ở Việt Nam T à i liê• u th a m k h ả o 247 3 LỜ I N Ó I ĐẦU G iá o t r i n h L ịc h s ử T â m lý h ọ c là g iá o t r i n h d à n h c h o đ à o tạ o cá c s in h v iê n h ệ c ử n h ă n c h u y ê n n g à n h T â m lý h ọ c do G iá o s ư , T iê n s ĩ T â m lý h ọ c N g u y ễ n N g ọ c P h ú soạn th ả o . G iá o t r ì n h có th ê d ù n g l à m tà i liệ u t h a m k h ả o b ổ tú c k i ê n th ứ c , tr a c ứ u c h o c á c h ọ c v iê n c a o h ọ c v à n g h iê n c ứ u s in h , v ề t â m l ý h ọ c . C u ố n g iá o tr ìn h này bao gồm các ch ư ơ n g sa u : C h ư ơ n g 1 - C á c tư tư ở n g tâ m lý h ọ c th ờ i k ỳ c ổ đ ạ i C h ư ơ n g 2 - C á c t ư tư ờ n g tă m lý h ọ c th ờ i T r u n g c ổ C h ư ơ n g 3 ■ C á c t ư tư ở n g tâ m lý h ọ c th ờ i P h ụ c h ư n g C h ư ơ n g 4 - C á c tư tư ở n g tâ m lý h ọ c t h ế k ỷ X V I I C h ư ơ n g 5 - C á c tư tư ở n g tâ m lý h ọ c th ế k ỷ X V I I I C h ư ơ n g 6 - C á c t ư tư ở n g tâ m lý h ọ c n ử a đ ầ u t h ế k ỷ X I X C hương 7 - S ự r a đ ờ i c ủ a tâ m lý h ọ c vớ i t ư c á c h là m ột khoa h ọ c đ ộ c lậ p T ừ c h ư ơ n g 1 đ ế n c h ư ơ n g 1, t á c g i ả t r i n h b à y c á c v ấ n đ ề p h á t tr iể n c ủ a cá c t ư tư ở n g tâ m lý h ọ c th e o th ờ i g ia n (th e o th ờ i đ ạ i, th ờ i k ỳ , t h ế k ỷ ). C h ư ơ n g 8 - T â m lý h ọ c G e s ta lt C h ư ơ n g 9 - T ă m lý học h à n h v i C h ư ơ n g 1 0 - P h â n tâ m h ọ c (S . F r e u d ) 5 Chương 11 - Sự hình thành và phát triển Tăm lý học hoạt động. Chương 12 - Sự hình thành và phát triển tâm lý học ở Việt Nam. Từ chương 8 trở đi, sau sự kiện tăm lý học trở thành một khoa học độc lập, những thành tựu tâm lý học dạt được ngày càng nhiều hơn, đã xuất hiện nhiều trường phái tâm lý học khác nhau. Bởi vậy, từ phần này trở đi, chúng tôi phân tích sự phát triển của tâm lý học theo các trường phái chủ yếu đã có, trong đó bao gồm cả sự hình thành, phát triền của tâm lý học hoạt động như một hệ quả tất yếu của cuộc khủng hoảng về phương pháp luận của tàm lý học thế giới. Chương 12 là chương xem xét khái quát sự hình thành, phát triển nền tâm lý học ở nước ta, mang tên “S ự h ì n h t h à n h v à p h á t t r i ể n t â m lý h ọ c ở V iệ t N a m ”. Với chương này, chúng tôi hy vọng bước đầu vạch ra bức tranh chung về hiện trạng của nền tăm lý học nước nhà đê từ đó suy nghĩ, tiếp tục định hướng cho sự phát triển nền tâm lý học Việt Nam còn rất non trẻ và có rất nhiều hứa hẹn. N ội dung của tập giáo trĩnh này chắc chắn còn nh.ều khiếm khuyết. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ giáo của các đồng nghiệp và xin chân thành cảm ơn trước về những ý kiến đóng góp để cho cuốn sách này ngày càng đ ư ợ c hcàn thiện. TÁC GIẢ 6 NHẬP ĐỂ “Tăm lý học là khoa học về tính quy luật của sự phát tri-ển và vận hành của tâm lý với tư cách là hỉnh thức đặc biệt của hoạt động sống""1. Tâm lý học lấy t â m lý làm đối tượng nghiên cứu. Từ xa xưa, sự phát triển của Tâm lý học nằm trong lòng phát triển của Triết học. Cho đến kh i con người nhận ra rằng có một loại hiện tượng là “tâm hồn” mà con người cần p h ải để tâm xem xét và cần có một khoa học nghiên cứu riêng về nó th i Tâm lý học dần dần được tách ra trở thành một khoa học độc lập. L ịch sử Tâm lý học theo quan điểm M ác x ít là lịch sử phát sinh, hỉnh thành và phát triển các tư tưởng, các khuynh hướng, các trường p h ái tâm lý học từ thời cổ đại cho đến ngày nay. về cội nguồn của nó, lịch sử phát triển tâm lý học đã gắn liền với lịch sử phát triển triết học. Đó là một lịch sử rất dài với những thăng trầm, thành công và thất bại, lịch sử của cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các trào lưu, các tư tưởng, các trường p h ái tâm lý học đã có trong lịch sử. (1) Từ điền Tàm lý học, A. Pêtơrôpxki và M. Iarôsepxki chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, Matxcơva 1990, tr. 7 Nghiên cứu Tâm lý học đê phục vụ cho cuộc sông của con người mà lạ i không nắm vững, không hiểu biết vế lịch sử phát triển các tư tưởng tâm lý học, đặc biệt là dôi với các nhà nghiên cứu, các sinh viên được đào tạo chuyên ngành về Tâm lý học th ỉ quả là một thiếu sót. Nghiên cứu lịch sử của Tăm lý học cần thiết phải làm rõ: - Quá trình nảy sinh, hình thành và phát triển của các tư tưởng tâm lý học từ cổ đại cho đến hiện nay. - Làm rõ những vấn đề cơ bản cơ bản của Tâm lý học như đối tượng của Tâm lý học, hệ thống các khái niệm phạm trù của khoa học này cùng sự phát triển của chúng qua các g ia i đoạn khác nhau của lịch sử. - Đánh giá cho thật khách quan, chính xác công lao của các cá nhân, các trường phái, các tác gia tâm lý học tiêu biểu qua các thời đại, các g ia i đoạn phát triển củng như những hạn chê của chúng do những yếu tố khách quan từ các điều kiện lịch sử cụ thể đem lại. Đó củng chính là đối tư ợ n g c ủ a lịc h s ử t â m lý h ọ c với tư cách là một lĩn h vực tri thức độc lập của khoa học tâm lý học . Đê nghiên cứu tốt lịch sử tâm lý học, các nhà nghiên cứu cần nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận sau: N g u y ê n t ắ c q u y ế t đ ị n h l u ậ n d u y v ậ t b iệ n c h ứ n g t r o n g n g h i ê n c ứ u , x e m x é t các q u y l u ậ t , p h ạ m t r ù , s ự p h á t s in h , p h á t t r i ể n các t ư t ư ở n g t â m lý học. Nguyên tắc này đòi hỏi nhà nghiên cứu p h ả i nhìn nhận các vấn đề phát triển của tâm lý học, các sự kiện tâm lý học gắn với tính quyết định xã hội - lịch sử, nhìn thấy nguyên nhân quyết định các tư tưởng tâm lý học từ trong chính các điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể của mỗi thời đại.
Giáo trình Lịch sử Tâm lý học (In lần 2, Phần 1) - Đại học Quốc gia Hà Nội
Giáo trình Lịch sử Tâm lý học (in lần 2, phần 1): Khám phá quá trình hình thành và phát triển của tâm lý học qua các thời kỳ. Tìm hiểu các trường phái, nhà tư tưởng lớn.
Trường đại học
Đại học Quốc gia Hà NộiChuyên ngành
Tâm lý họcNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Giáo trìnhPhí lưu trữ
35 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Giáo trình Lịch sử Tâm lý học Tổng quan và Mục tiêu In lần 2
Giáo trình Lịch sử Tâm lý học là tài liệu đào tạo sinh viên chuyên ngành Tâm lý học, do Giáo sư, Tiến sĩ Tâm lý học Nguyễn Ngọc Phú biên soạn. Giáo trình này còn là tài liệu tham khảo bổ sung kiến thức cho học viên cao học và nghiên cứu sinh. Sách bao gồm các chương: Tư tưởng tâm lý học thời kỳ Cổ đại, Trung cổ, Phục hưng, thế kỷ XVII, XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX. Tiếp theo là sự ra đời của Tâm lý học như một khoa học độc lập, Tâm lý học Gestalt, Tâm lý học hành vi, Phân tâm học, sự hình thành và phát triển Tâm lý học hoạt động, và Tâm lý học ở Việt Nam. Giáo trình tập trung trình bày các vấn đề phát triển của các tư tưởng tâm lý học theo thời gian, từ cổ đại đến hiện đại. Sau sự kiện tâm lý học trở thành một khoa học độc lập, giáo trình phân tích sự phát triển của tâm lý học theo các trường phái chủ yếu, bao gồm cả sự hình thành và phát triển của tâm lý học hoạt động. Chương cuối cùng xem xét khái quát sự hình thành, phát triển nền tâm lý học ở Việt Nam, bước đầu vạch ra bức tranh chung về hiện trạng của nền tâm lý học nước nhà. Giáo trình Lịch sử Tâm lý học lần in thứ 2, phần 1 này, mong muốn mang đến một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về sự hình thành và phát triển của ngành khoa học tâm lý học.
1.1. Đối tượng và Mục tiêu Nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học
Nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học cần làm rõ quá trình nảy sinh, hình thành và phát triển của các tư tưởng tâm lý học từ cổ đại đến nay. Cần làm rõ những vấn đề cơ bản của Tâm lý học như đối tượng của Tâm lý học, hệ thống các khái niệm phạm trù của khoa học này cùng sự phát triển của chúng qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử. Đánh giá khách quan, chính xác công lao của các cá nhân, các trường phái, các tác gia tâm lý học tiêu biểu qua các thời đại, các giai đoạn phát triển. Đây chính là đối tượng của lịch sử tâm lý học với tư cách là một lĩnh vực tri thức độc lập của khoa học tâm lý học.
1.2. Nguyên tắc Phương pháp luận Nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học
Để nghiên cứu tốt lịch sử tâm lý học, các nhà nghiên cứu cần nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận: Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu, xem xét các quy luật, phạm trù, sự phát sinh, phát triển các tư tưởng tâm lý học. Nguyên tắc này đòi hỏi nhà nghiên cứu phải nhìn nhận các vấn đề phát triển của tâm lý học gắn với tính quyết định xã hội - lịch sử, nhìn thấy nguyên nhân quyết định các tư tưởng tâm lý học từ trong chính các điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể. Nguyên tắc lịch sử gắn liền với nguyên tắc khách quan, khoa học đòi hỏi các nhà nghiên cứu biết xem xét các vấn đề lịch sử tâm lý học, sự phát triển các tư tưởng tâm lý học của các tác gia, các trường phái đúng như lịch sử đã có. Cuối cùng, nghiên cứu lịch sử tâm lý học cần nắm vững nguyên tắc phát triển. Nguyên tắc này đòi hỏi nhà nghiên cứu phải biết nhìn các vấn đề của tâm lý học, các sự kiện Lịch sử với tư tưởng phát triển.
II. Tư tưởng Tâm lý học Trung Hoa Cổ đại Tổng quan và Phân tích
Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XI TCN, dọc theo giải phù sa màu mỡ của sông Hoàng Hà đã xuất hiện các dân tộc Thương trong lịch sử văn minh Trung hoa với một liên minh thị tộc rộng lớn. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, chăn nuôi và săn bắn khá phát triển. Người Trung Quốc thời kỳ này đã biết làm ra lịch mùa, một phát minh quan trọng của người Ân. Nhà Chu xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ XI TCN. Nhà Chu đã tiến xa hơn người Ân trong việc dựng nước. Các tư tưởng chính trị chủ yếu của giai cấp quý tộc Chu là "Nhận dân", "Hưởng dân" và "Trị dân". Tư tưởng chính của đạo đức thời Chu là "đức" và "hiếu". Từ thế kỷ thứ VIII - III TCN là thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với nhiều biến động rộng lớn trên toàn xã hội Trung Quốc cổ đại. Đây là thời kỳ rực rỡ xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng chính trị, triết học, tâm lý học với nhiều nhân vật nổi bật như Khổng Tử.
2.1. Thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong Tâm lý học Trung Hoa
Thuyết Âm - Dương phản ánh tư tưởng sơ khai duy vật (hất phác biện chứng) của người Trung Quốc cổ đại. Âm - Dương là cặp phạm trù triết học của phương Đông, tựa như hai mặt đối lập cấu thành sự vật trong triết học phương Tây. Âm - Dương vừa có xu hướng bài trừ nhau, vừa có xu hướng làm tiền đề cho nhau cùng tồn tại, là động lực của mọi vận động phát triển của các sự vật. Các dân tộc thuộc Hoa Bắc Trung Quốc có quan niệm bản chất của thế giới là sự tổng hòa của 5 yếu tố (ngũ hành) nguyên thủy của tự nhiên là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Các yếu tố này được quan niệm là các dạng khác nhau của vật chất và vận động, các hình thức tồn tại khác nhau của Âm - Dương. Như vậy, thuyết Ngũ hành chứa đựng những tư tưởng biện chứng về quan hệ của các sự vật cũng như sự chuyển hóa vận động của thế giới vật chất.
2.2. Nho gia Khổng Tử Mạnh Tử Tuân Tử và tư tưởng Tâm lý
Tư tưởng Nho giáo chiếm giữ một vị trí nổi bật trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa. Nho giáo (còn gọi là Khổng giáo) là một học thuyết về cách xử thế của người quân tử theo nguyên tắc: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ. Các đại biểu xuất sắc của Nho giáo gồm có: Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử. Khổng Tử mong muốn phục hưng lễ giáo nhà Chu, mong muốn cho xã hội Trung Hoa ổn định bằng cách khôi phục lại đường lối đức trị và lễ trị thời Tây Chu. Ông xây dựng học thuyết Nhân - Lễ - Chính danh. Khổng Tử là một nhà giáo dục vĩ đại, am hiểu sâu sắc tường tận tâm lý con người. Trong giáo dục, ông chú ý cả ba mặt: Đạo đức, Kiến thức và Thực tiễn, trong đó ông cho rằng đạo đức có vai trò quan trọng nhất. P hương châm giáo dục của ông là: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
III. Đạo gia Lão Tử Trang Tử và các Tư tưởng Tâm lý Trung Hoa
Đạo gia là một dòng phái phản ánh tư tưởng của một bộ phận tầng lớp quý tộc nhỏ không kịp chuyển sang giai cấp địa chủ, lại bị thế lực đại quý tộc và tầng lớp địa chủ mới uy hiếp. Đạo gia là một trong ba trào lưu triết học lớn thời Xuân Thu - Chiến quốc. Đạo gia chia làm nhiều phái, tư tưởng phong phú và đa dạng nhưng đều hướng vào điểm chung là “vị ngã”, nhằm đạt tới lợi ích cao nhất của cá nhân. Sự hình thành và phát triển của đạo gia gắn liền với tên tuổi của các bậc hiền triết, tiêu biểu nhất là Lão Tử và Trang Tử.
3.1. Tư tưởng Vô vi của Lão Tử trong Tâm lý học
Về tư tưởng triết học và tâm lý học của Lão Tử thể hiện, ông coi “Đạo” và “Đức” là hai phạm trù cơ bản, là điểm xuất phát đồng thời cũng là hạt nhân trong lập luận triết học của ông. Đạo là bản thể, là nguồn gốc, là bản chất sâu kín của vạn vật. Lão Tử cho rằng con người biết được thiên hạ là nhờ vào Đức. Đây là nhân tố duy vật trong triết học của Lão Tử. Lão Tử đã đưa ra các nguyên tắc đối nhân xử thế giữa người với người khá tinh tế và sâu sắc, được nhiều các binh gia và chính trị gia ca ngợi, vận dụng thông qua luận về “vô vi” của ông. Vô vi, theo Lão Tử là sống theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không trái với bản tính mình và bản tính của tạo hóa.
3.2. Trang Tử và ảnh hưởng đến Tâm lý học Trung Hoa
Trang Tử (còn gọi là Trang Chu) là một nhà tư tưởng lớn trong phái Đạo gia, nhà triết học duy tâm chủ quan thời Chiến quốc. Cuộc đời của Trang Tử là cuộc đời thanh bạch, giản dị, ghét thói háo danh, cầu lợi, ưa phong cách sống ung dung, khoáng đạt. Tư tưởng triết học của ông thể hiện rõ trong tác phẩm Nam Hoa Kinh, được coi không chỉ là một tác phẩm triết học mà còn là một tác phẩm văn học xuất sắc, một kiệt tác của Trung Hoa. Trang Tử đã phát triển phép biện chứng của Lão Tử theo hướng chủ nghĩa hoài nghi và bất khả tri. Ông khẳng định tri thức là chủ quan, không có chân lý khách quan.
IV. Mặc gia Pháp gia và Tư tưởng Tâm lý học trong lịch sử Trung Hoa
Mặc gia là một trường phái tư tưởng xuất hiện sau Khổng Tử mấy chục năm, trên đất Lỗ, phản ánh tư tưởng, nguyện vọng của tầng lớp dân tự do, sản xuất nhỏ, tiểu tư sản. Mặc gia là một học thuyết chống lại "thiên mệnh" với đại biểu xuất sắc là Mặc Tử. Pháp gia là một trường phái phản ánh tư tưởng, ý chí của giai cấp địa chủ vào cuối thời kỳ Chiến quốc, giai đoạn hình thành quan hệ sản xuất phong kiến. Đại biểu xuất sắc của pháp gia là Hàn Phi.
4.1. Học thuyết Kiêm ái của Mặc Tử và ý nghĩa trong Tâm lý
Mặc Tử xuất thân từ hạng người thấp hèn, đã từng làm thợ mộc, về sau ông đi nhiều nước làm nghề dạy học. Thế giới quan của ông là thế giới quan duy tâm và hữu thần nhưng không thừa nhận số mệnh. Trời là một đấng anh minh, có ý chí và quyền lực tối cao. Ông chủ trương lập thuyết “kiêm ái”, chủ trương “thượng hiền”, tức là chọn người hiền ra điều hành đất nước, mặc dù người đó thuộc tầng lớp tiện dân; chủ trương “thượng đồng”, tức đồng nhất, bình đẳng trong sinh hoạt mọi người.
4.2. Pháp trị của Hàn Phi và Ảnh hưởng đến Tâm lý học Chính trị
Hàn Phi, cũng như phái pháp gia chủ yếu bàn về vấn đề chính trị - xã hội mà ít bàn đến những vấn đề của bản thể trừu tượng. Hàn Phi là người phản đối gay gắt phép nhân trị của Nho gia và phép vô vi của Đạo gia. Theo ông, muốn thu phục được thiên hạ, điều quan trọng là phải có sức mạnh về kinh tế và quân sự.Ông cho rằng, mọi thứ “nhân”, “nghĩa”, “lễ”, “hiếu”, “trung” đều là viển vông, vô bổ. Muốn có sức mạnh, mọi quyền lực phải được tập trung vào tay một ông vua chuyên chế. Về nhận thức luận, Hàn Phi kế thừa nhận thức duy vật của Tuân Tử, phép biện chứng của Lão Tử.
V. Tư tưởng Tâm lý Ấn Độ Cổ đại Triết học và Tôn giáo
Do sự tồn tại dai dẳng và quá lâu của công xã nông thôn và chế độ quốc hữu về ruộng đất mà các bước phát triển của lịch sử xã hội Ấn Độ cổ đại đã có những đặc điểm riêng, không như các nước khác ở châu Âu. Nô lệ chưa bao giờ trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu. Từ khởi đầu của nền triết học và tâm lý học Ấn Độ cổ đại đã là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao của cuộc đấu tranh này xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ II tr. Ở Ấn Độ đã tồn tại 9 hệ thống triết học (chính thống có 6 hệ thống và không chính thống có 3 hệ thống). Đáng kể đến là các hệ thống triết học Véda, Yoga, Vai’sesika và Lokayata.
5.1. Thuyết Atman Brahman trong Triết học Veda và Tâm lý học
Các học thuyết duy tâm thuộc phái Véda cho rằng Brahman (tinh thần thế giới, bản ngã vũ trụ) - là bản chất duy nhất, hiện thực đầu tiên . Còn toàn bộ thế giới vật chất mà chúng ta thấy là sự tỏa sáng của Brahman. Thân thể chỉ là cái vỏ ngoài của Atman (linh hồn, bản ngã cá thể). Như vậy, trong Brahman có Atman, mỗi Atman là một phần của Brahman, thể hiện sự hòa đồng giữa con người và vũ trụ. Linh hồn con người không chết mà tồn tại mãi mãi.
5.2. Đạo Phật Nguyên thủy và Triết lý Vô Thần về Nhân sinh quan
Cần nhận thức rằng, đạo phật nguyên thủy không phải là một tôn giáo mà chỉ là một thứ triết lý về nhân sinh quan với những yếu tố duy vật và phép biện chứng sâu sắc. Cho đến nay, phật giáo vẫn là tôn giáo duy nhất chống lại thần quyền mặc dầu trong nội dung của nó vẫn còn những thể hiện của quan điểm duy tâm về xã hội và cuộc sống con người.
VI. Tư tưởng Tâm lý Hy Lạp Cổ đại Nguồn gốc Triết học Châu Âu
Nền văn minh Hy Lạp tiêu biểu cho sức sống mạnh mẽ của nhân loại, một cái mốc của lịch sử nhân loại bước vào thời đại văn minh. Hy Lạp là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi. Khí hậu Hy Lạp ấm áp, trong lành. Nằm ở miền đông Địa Trung hải, gần gũi với các quốc gia cổ đại phương Đông vốn có nền văn minh lâu đời, lại tiện thông thương hàng hải nên nền công thương nghiệp và mậu dịch hàng hải của Hy Lạp phát triển khá nhanh. Vào khoảng từ thế kỷ thứ VII tr. CN trong tư duy của các triết gia cổ đại Hy Lạp, người ta đã đề cập đến khái niệm “tâm hồn”.
6.1. Hãy nhận thức chính bản thân mình Châm ngôn của Socrate
Sau Socrate, các học trò của ông, trong đó có Platon, rồi học trò của Platon là Aristote cũng như nhiều triết gia thuộc các thế hệ tiếp theo khác đã lao vào nghiên cứu với mong muốn làm rõ lĩnh vực tinh thần của con người. Quan điểm triết học và tâm lý học nổi tiếng của Socrate thể hiện trong châm ngôn mà ông phát biểu cho mình và cho người đời: “Hãy nhận thức chính bản thân mình”. Việc xuất hiện châm ngôn này có một ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với sự phát triển của khoa học tâm lý ở chỗ, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của khoa học nói chung, của triết học và tâm lý học nói riêng đã có người kêu gọi cần phải nghiên cứu một loại hiện tượng thuộc về con người, về thế giới tinh thần của con người.
6.2. Học thuyết về Tâm hồn của Democrite Duy vật và Cơ giới
Về hiện tượng tâm hồn ở con người, trên cơ sở của thuyết nguyên tử luận, Democrite đi đến các luận điểm cơ bản sau: Tương tự như trong thế giới vật chất, tâm hồn là vật chất, vận động và biến đổi theo quy luật của thế giới vật chất. Tâm hồn cũng được cấu tạo từ các nguyên tử, đó là các nguyên tử lửa nhẹ, hình cầu nóng rực. Con người có khả năng nhận biết được thế giới bên ngoài vì cơ thể người được cấu tạo từ các chất có ở bên ngoài. Đây chính là một giả thuyết tâm lý học cổ nhất mang dấu ấn của một quan niệm tự nhiên ngây thơ.
6.3. Platon và quan điểm Duy tâm về Cấu trúc Tâm hồn
Platon là ông tổ của chủ nghĩa duy tâm triết học ở Tây Âu. Ông đã phê phán sự ngự trị gần 200 năm của các con số của Pythagore, kéo các nhà triết học, tâm lý học đi vào các khía cạnh hiện thực của cuộc sống con người là lĩnh vực đạo đức, trí tuệ . Điều này có ý nghĩa to lớn cho sự phát triển tâm lý học. Quan điểm về tâm hồn của Platon có bước tiến lớn: Nhìn tâm hồn theo quan điểm cấu trúc, chức năng và có thứ bậc.
TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Bạn đang xem trước tài liệu:
Giáo trình lịch sử tâm lý học in lần thứ 2 phần 1
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phú
Trường học: Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành: Tâm lý học
Đề tài: Lịch Sử Tâm Lý Học
Loại tài liệu: Giáo trình
Địa điểm: Hà Nội
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ