ĐẶT VẤN ĐỀ Thế giới tự nhiên và xã hội loài người ngày càng có nhiều thay đôi sâu sắc và nhanh chóng về mọi mặt, trong đó có vẩn đề sức khỏe và bệnh tật [14], Trong tuyên ngôn Alma-Ata 1978, Tổ chức Y tế thể giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là tình trạng không bệnh tật hay đau yếu [35]. Sức khỏe tâm thần (SKTT) là một mặt của sức khỏe nói chung. Người có cơ thể lành lặn, cường tráng mà tâm thần bấn loạn; quan hệ gia đình xã hội khúc mac thì cũng không thế coi là “người khỏe mạnh" [14]. SKTT hiện đang được thừa nhận rộng rãi hơn.
không còn bị kỳ thị nặng nề và gán cho chỉ là bệnh “điên loạn’’ như trước đây nữa. Xã hội ngày càng phát triển trong mọi lĩnh vực thì người ta càng bị ảnh hưởng bởi SKTT ngày càng nhiều. Theo WHO thì ngày nay !4 nhân loại (25% dân số) có vấn đề về SKTT [14], Trong đó RLLA là một nhóm bệnh rất phổ biến, chiếm tới hơn 20% dân số [8]. Chi phí cho RLLA của cộng đồng là rất cao bao gồm việc gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, suy giảm phúc lợi, thường xuyên phải đi chữa bệnh, suy giảm khả năng thích nghi, kết hợp với nghiện chất [15].
RLLA nếu không được phát hiện và điều trị có thể làm cho các triệu chứng ngày một nặng và tồi tệ hơn. Những người có RLLA thường kết hợp với trầm cảm, và họ có thể lạm dụng rượu và các chất gây nghiện khác nhằm mục đích giảm nhẹ các triệu chứng. Công việc, học tập, các mối quan hệ cá nhân cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng [20]. Theo Hiệp hội các RLLA Hoa Kỳ (ADAA) RLLA là bệnh tâm thần phổ biến nhất ở Hoa Kỳ.
ảnh hưởng đến khoảng 18% dân số Mỹ [23], RLLA thấy ở mọi người, mọi giới và mọi tuổi. Các RLLA có thể chữa trị được nhưng hiện chỉ có 1/3 BN được chẩn đoán và điều trị. Chi phí điều trị các RLLA lên đến 42 tỉ USD mỗi năm, chiếm 1/3 tổng chi phí 148 tỉ USD dành cho SKTT của toàn nước Mỹ. Những người có RLLA phải thường xuyên đến gặp bác sĩ nhiều gấp 3-5 lần và nhập viện điều trị các rối loạn tâm thần gấp 6 lần so với những người bình thường [23], Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Viết Thiêm (2002) cho thấy tỉ lệ người dân mắc rối loạn tâm thần ở vào khoảng 15-20% dân số [13].
Năm 2 2005, nghiên cứu dịch tễ học bệnh tâm thần của Trần Văn Cường cho kết quả 2,6% dân số có biểu hiện RLLA [7], Trong lĩnh vực y tế, nghiên cứu mới đây của Trần Thị Thúy (2011) ghi nhận có đến 40,5% CBYT biểu hiện RLLA thuộc nhiều mức độ, trong đó 9,9% RLLA ở mức độ nặng và rất nặng [16], Thế giới đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề SKTT, trong đó có van đề RLLA. Ở Việt Nam, theo ghi nhận của chúng tôi tính đến thời điểm hiện nay, các nghiên cứu về RLLA là khá hạn chế. Mặc dù có một số nghiên cứu về SKTT nói chung nhưng ít có những nghiên cứu riêng biệt về RLLA. Đặc biệt, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu riêng biệt nào về RLLA ở CBYT.
Trong khi đó, y tế lại là ngành nghề đặc thù, CBYT là đối tượng hằng ngày phải đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ nghề nghiệp dễ dẫn đến RLLA. BV Tâm thần Đà Nằng là BV chuyên khoa hạng 2 trực thuộc Sở Y tế Đà Nằng với 180 giường bệnh và 196 CBYT hiện đang công tác. Với đặc thù chuyên ngành. CBYT phải thường xuyên tiếp xúc với những BN có các rối loạn về tâm thần và đối diện hàng ngày với những hành động bất thường, nguy hiểm của BN.
Với những nguy cơ như vậy cùng những khó khăn trong việc thu hút CBYT về công tác trong ngành tâm thần: tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc đã đặt các CBYT dễ rơi vào những tình huống dẫn đến RLLA cao [3], [5]. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhàm mô tả thực trạng CBYT có biểu hiện RLLA ở BV Tâm thần Đà Nằng, đồng thời tìm hiểu về một số yếu tố liên quan và giải pháp phòng ngừa RLLA thiết thực, hiệu quả giúp tăng cường sức khỏe tinh thần cho CBYT, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn tại BV. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN cúu Mục tiêu cụ thể: 1. Mô tả thực trạng về biểu hiện rối loạn lo âu ở cán bộ bệnh viện Tâm thần Đà Nằng năm 2012; 2.
Xác định một số yếu tố liên quan đen tình trạng rối loạn lo âu ở cán bộ bệnh viện Tâm thần Đà Nang; 3. Mô tả một số giải pháp phòng ngừa rối loạn lo âu cho cán bộ bệnh viện Tâm thần Đà Nằng. 4 Chưong 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giói thiệu về vấn đề rối loạn lo âu 1.
Khái niệm về lo âu và rối loạn lo âu Charles Darwin - Ông tổ ngành Sinh vật trong tác phẩm: "Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật” viết năm 1872 đã mô tả: “Con người trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng” [14], Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi, mơ hồ. khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể ở bất cứ bộ phận nào. Lo âu có thể là hoạt động thích nghi như một tín hiệu báo động và báo trước sự đe dọa bên ngoài hoặc bên trong. Ernest Jones đã đưa ra các trạng thái lo âu khác nhau: sợ và lo âu [14], Ông mô tả 2 nét khác nhau giữa sợ và lo âu như sau: - Sợ nói chung được coi như sự đáp ứng ứng với kích thích đe dọa từ bên ngoài nguy hiêm có thực đang đến.
vì vậy có tính chất sống còn. - Ngược lại lo âu giống như sợ nhưng lại không có sự đe dọa rõ ràng. Không cân xứng giữa kích thích bên ngoài và biểu hiện của tâm thần và cơ thể. Lo âu trở thành vấn đề sức khỏe đáng quan tâm khi xuất hiện không liên quan tới một sự đe dọa nào, mức độ lo âu không cân xứng với bất cứ một đe dọa nào và tồn tại kéo dài.
Khi mà mức độ lo âu dẫn đến gây trở ngại rõ rệt các hoạt động lúc đó được gọi là lo âu bệnh lý [14], Lo âu bệnh lý có 2 mức độ: Lo âu tính cách (Nhân cách lo âu) và RLLA [14]: Tính cách lo âu: Một số người có nhân cách lo âu và thường được mô tả như lo âu “bẩm sinh”. Họ lo buồn vì những nguyên cớ nhỏ, căng thẳng bởi những sức ép thậm chí nhỏ nhât và thấy sợ hãi vì năng lực của họ. Những người này có biểu hiện: thường dễ xúc động, dễ sợ hãi, cẩn thận quá mức và biểu hiện lo âu nhiều hơn người cùng tuổi trong các tình huống tương ứng. RLLA (Tâm căn lo âu): 5 RLLA cùng với trầm cảm là hai rối loạn tâm thần thường gặp.
Các RLLA xảy ra rất phổ biến, cứ bổn người có một người bị rối loạn này tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời họ [15]. RLLA có sáu thể bệnh [9]: - RLLA lan tỏa: những lo lắng, sợ hãi luôn luôn thường trực làm ảnh hưởng đến công việc hàng ngày của BN hoặc BN có những lo lắng là có một điều gì không tốt với họ đang chuẩn bị đen. Những BN bị RLLA lan tỏa thường cảm thấy lúc nào cũng lo lắng, mặc dầu họ không biết tại sao và thường có biểu hiện kèm theo như mất ngủ, nóng rát dạ dày, bon chon bất an. - Rối loạn hoáng sợ: được đặc trưng bởi những cơn hoảng hốt sợ hãi, tim đập nhanh, thở nhanh, nông, run rây chân tay, cảm giác buồn nôn.
cảm thấy như mất sự kiểm soát. BN thường kèm theo tình trạng sợ đám đông hoặc sợ khoảng trống, tránh đến những nơi công cộng như siêu thị, đi máy bay,. - Sợ đặc hiệu: là một sự sợ hãi không có thật hoặc một sự sợ hãi quá mức một đồ vật, một hành động hoặc một tình huống thực sự không nguy hiểm. Sợ đặc hiệu phổ biến là sợ động vật.
Ví dụ như sợ rắn hoặc nhện, sợ độ cao hoặc sợ đi máy bay. Trong những trường hợp nặng, bệnh có thể kéo dài và BN thường tránh những tình huống gây sợ này. Điều này làm cho bệnh nặng thêm. - Roi loạn stress sau sang chấn: là một sự lo lắng xảy ra sau khi gặp phải một sự kiện gây sốc hoặc sự kiện gây đe dọa cuộc sống của BN với những biểu hiện hồi tưởng hoặc ác mộng về những việc xảy ra, tăng sự cảnh giác, hay hoảng hốt, thu hẹp tiếp xúc với người khác, tránh những tình huống gợi lại sang chấn.
- RLLA sợ xã hội: BN có sự sợ hãi là người khác đánh giá không tốt về họ ở những nơi công cộng, nói một cách dễ hiểu hơn là BN quá mất tự tin, ngượng ngùng khi ra trước đám đông. Trong những trường hợp nặng BN thường tránh hết mọi giao tiếp xã hội. - Roi loạn ám ảnh cưỡng bức: được đặc trưng bởi những ý nghĩ hoặc những hành vi không mong muốn nhưng không thể kiểm soát hoặc không thể không thực hiện được. Ví dụ như BN rất sợ tay bẩn và có thể mất hàng tiếng đồng hồ để rửa tay, BN luôn sợ ràng mình quên không khóa cửa và phải kiểm tra nhiều lần.
Biểu hiện của rối loạn lo âu 6 RJLLA là một nhóm triệu chứng liên quan đến nhiều trạng thái khác nhau. Vì vậy biểu hiện lâm sàng có thể rất khác nhau và ban đầu người bệnh thường đi khám ở những chuyên khoa khác nhau như là tim mạch, hô hấp, thần kinh. chứ ít khi người bệnh đến chuyên khoa tâm thần. Ngay từ đầu người bệnh ít khi công nhận đây là những bệnh lý về tâm thần, đôi khi họ còn rất khó chịu, nổi cáu với thầy thuốc khi chuyển họ đi khám chuyên khoa về tâm thần.