Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái niệm lo âu và rối loạn lo âu 1. Khái niệm lo âu Tác giả KE Jastrowski Mano viết năm 2017, cho rằng lo lắng học đường nó bao gồm các khó khăn trong học tập và giữa các cá nhân với nhau, chẳng hạn như nổi sợ liên quan đến học tập, đánh giá tiêu cực của giáo viên, các mối quan hệ đồng đẳng, lo lắng học đường thường liên quan đến hành vi trốn học, lo lắng trường học sử dụng để mô tả cảm xúc nhận thức của trẻ, việc trốn học được xem như là một biểu hiện hành vi của sự lo lắng hoặc nghiêm trọng hơn là một biến chứng về hành vi kèm theo các rối loạn lo âu ở trẻ. Nói cách khác lo lắng trường học diễn ra khi một đứa trẻ trải qua sự lo lắng nghiêm trọng liên quan đến trường và dẫn tới việc trẻ trốn tránh trường học.
[17] Trong bài nghiên cứu của Diane Peter Mayer về lo lắng học đường, một phần là do trẻ mang các vấn đề ở nhà đến trường bao gồm bị rối loạn lo âu, bị khuyết tật học tập, đối phó với các vấn đề gia đình như cha mẹ ly hôn, chấn thương thời thơ ấu, một phần là do môi trường học đường cụ thể là đánh giá, thành tích và kiểm tra, ngoài ra còn có các yếu tố khác như áp lực từ bạn bè, bị bắt nạt hoặc không hòa hợp với giáo viên. [19] Theo tác giả Nguyễn Thị Vân, trong nghiên cứu “ lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” năm 2019 cho rằng lo âu học đường là một trạng thái lo lắng, căng thẳng, sợ hãi quá mức, những lo lắng, vất an liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ học đường, xuất hiện trong không gian trường học, Trạng thái này thường kéo dài và lặp đi lặp lại gây ảnh hưởng đến tiến trình và kết quả học tập, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống tinh thần của các em. Trong nghiên cứu của tác giả cũng đồng nhất khái niệm lo âu học đường bằng thuật ngữ rối loạn lo âu học đường. [13] Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi cho rằng lo âu học đường là những biểu hiện lo lắng, sợ hãi quá mức, nó hình thành trong một thời gian dài 8 n và có liên quan đến các yếu tố như học tập, mối quan hệ bạn bè, thầy cô, nó ảnh hưởng đến cuộc sống của các em học sinh.
Rối loạn lo âu Theo DSM – V thì rối loạn lo âu lan tỏa là dạng phổ biến nhất của rối loạn lo âu, nó được đặc trưng bởi sự lo lắng không thực tế hoặc quá nhiều hoặc lo lắng về hai hay nhiều tình huống cuộc sống trong ít nhất 6 tháng, nếu có biểu hiện các tiêu chí của rối loạn lo âu lan tỏa rất có thể đã gặp hoặc đang đáp ứng các tiêu chí cho RL lo âu khác và các RL trầm cảm đơn cực. Tiêu chuẩn để chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa theo DSM – V như sau: A. Sự lo lắng quá mức hoặc lo lắng hiện diện trong hầu hết các ngày trong suốt 1 thời gian ít nhất sáu tháng, liên quan đến một số sự kiện cuộc sống (vd: về việc làm ăn hoặc kết quả học tập) B. BN khó kiểm soát cơn lo lắng C.
Có ít nhất ba trong số những biểu hiện sau: (đối với trẻ em chỉ cần 1) - Bồn chồn hoặc cảm giác bị khóa cứng hay trên bờ vực - Dễ mệt mỏi. - Khó tập trung - Khó chịu - Cơ bắp căng thẳng - Rối loạn giấc ngủ D. Trọng tâm của sự lo lắng không phải là sự lo lắng tiên liệu trước về việc có một cơn hoảng loạn, như trong RL hoảng loạn. Những lo lắng hay triệu chứng cơ thể gây ra đau khổ đáng kể hoặc suy giảm hoạt động Các triệu chứng không được gây ra bởi việc sử dụng chất gây nghiện hoặc một bệnh lý, và cac triệu chứng không liên quan đến một rối loạn khí sắc hoặc rối loạn tâm thần.
Phân biệt giữa lo âu và rối loạn lo âu Chúng ta cần phân biệt giữa lo âu bình thường và rối loạn lo âu dựa trên biểu hiện thời gian, triệu chứng cơ thể, rối loạn hệ thần kinh ngoại biên,… Theo DSM – 9 n V phân biệt rối loạn lo âu và lo âu thông thường phân biệt bởi 2 yếu tố trên là trạng thái lo lắng thái quá và cá nhân có khó khăn hoặc mất kiểm soát lo âu. Trải nghiệm lo âu khó kiểm soát cảm xúc bản thân, những cảm xúc tiêu cực thường tạo ra đảo lộn hay mất năng lực trong phạm vi cá nhân. Đối với lo âu bình thường, lo âu về vấn đề có nội dung rõ ràng như bệnh tật, công việc,… Chỉ diễn ra trong thời gian khi các sự kiện đang diễn ra và hết lo âu khi sự kiện kết thúc. Triệu chứng thường không có hoặc rất ít tối loạn hệ thần kinh ngoại biên.
Đối với rối loạn lo âu, lo âu không cho chủ đề rõ ràng, mang tính chất vô lý, mơ hồ như lo lắng về tương lai. Thời gian lo âu thường kéo dài và lặp đi lặp lại. Người có rối loạn gặp nhiều rối loạn hệ thần kinh ngoại biên như: mạch đập nhanh, thở gấp, khô miệng, vã mồ hôi nhiều, lạnh tay chân, run, bất an,…. Lo âu học đường của học sinh Trung học cơ sở 1.
Khái niệm lo âu học đường Tác giả KE Jastrowski Mano (2017) cho rằng lo lắng học đường nó bao gồm các khó khăn trong học tập và giữa các cá nhân với nhau, chẳng hạn như nổi sợ liên quan đến học tập, đánh giá tiêu cực của giáo viên, các mối quan hệ đồng đẳng, lo lắng học đường thường liên quan đến hành vi trốn học, lo lắng trường học sử dụng để mô tả cảm xúc nhận thức của trẻ, việc trốn học được xem như là một biểu hiện hành vi của sự lo lắng hoặc nghiêm trọng hơn là một biến chứng về hành vi kèm theo các rối loạn lo âu ở trẻ. Nói cách khác lo lắng trường học diễn ra khi một đứa trẻ trải qua sự lo lắng nghiêm trọng liên quan đến trường và dẫn tới việc trẻ trốn tránh trường học. [17] Lo lắng học đường, một phần là do trẻ mang các vấn đề ở nhà đến trường bao gồm bị rối loạn lo âu, bị khuyết tật học tập, đối phó với các vấn đề gia đình như cha mẹ ly hôn, chấn thương thời thơ ấu, một phần là do môi trường học đường cụ thể là đánh giá, thành tích và kiểm tra, ngoài ra còn có các yếu tố khác như áp lực từ bạn bè, bị bắt nạt hoặc không hòa hợp với giáo viên. [19] Theo tác giả Nguyễn Thị Vân, trong nghiên cứu “ lo âu học đường của học 10 n sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” năm 2019 cho rằng lo âu học đường là một trạng thái lo lắng, căng thẳng, sợ hãi quá mức, những lo lắng, vất an liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ học đường, xuất hiện trong không gian trường học, Trạng thái này thường kéo dài và lặp đi lặp lại gây ảnh hưởng đến tiến trình và kết quả học tập, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống tinh thần của các em.
Trong nghiên cứu của tác giả cũng đồng nhất khái niệm lo âu học đường bằng thuật ngữ rối loạn lo âu học đường. [13] Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi cho rằng “lo âu học đường là những biểu hiện lo lắng, sợ hãi quá mức, nó hình thành trong một thời gian dài và có liên quan đến các yếu tố như học tập, mối quan hệ bạn bè, thầy cô, nó ảnh hưởng đến cuộc sống của các em học sinh” 1. Những dấu hiệu của lo âu học đường Lo âu học đường ở lứa tuổi cấp 2, những biểu hiện qua thể lý, tâm lý ảnh hưởng đến thể lý như một số trẻ phát triển lo âu sớm biểu hiện về mặt cơ thể: đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy. Đối với mặt xã hội, trẻ có rối loạn lo âu dần tự tách mình khỏi hoạt động nhóm, ít vui chơi, phụ thuộc cha mẹ cao hơn.
Thỉnh thoảng khó kiểm soát cảm xúc, có cảm xúc thái quá với sự kiện không đáng kể. Những biểu hiện cơ bản chẩn đoán: Xuất hiện lo lắng thái quá trong vòng 6 tháng, mất tự tin thường xuyên tự phê bình, không thể kiểm soát cảm xúc, biểu hiện cơ thể đau nhức cơ, khó tập trung, đồng hồ sinh học bị rối loạn, lo lắng quá mức vấn đề chưa xảy ra,… Lo âu học đường có những biểu hiện như sau: Các em thường cố gắng tìm kiếm sự công nhận, ủng hộ của giáo viên; trẻ không hiểu tại sao mình lại gặp vấn đề lo lắng khi giao tiếp với giáo viên và khả năng tự chấm dứt lo lắng là không có, mặc dù đã được người lớn trấn an; trẻ hay tránh xa việc học hành hoặc các hoạt động liên quan đến trường học, bạn bè; trẻ thiếu tự tin; trẻ gặp phải tình trạng khó tập trung nhất là việc học; lãng tránh hoặc tìm cách không tới trường học dẫn tới việc trẻ hay bị đi học muộn, hay bệnh, hay ngủ nướng; hoặc miễn cưỡng tới trường tuy 11 n nhiên việc học lại không hiệu quả; giấc ngủ bị rối loạn; một số bệnh lý mãn tính, rối loạn tăng động giảm chú ý, ám ảnh xã hội, hoảng sợ, chia ly cũng có biểu hiện kèm theo lo lắng, lo sợ bố mẹ mắng hoặc phiền lòng khi bị điểm kém, lo lắng rằng mình đã làm đúng hay chưa mỗi khi làm xong bài, cảm giác lo sợ bị thầy (cô) trách phạt khi không hoàn thành các bài tập được giao, thường lo sợ khi trả lời sai hoặc làm sai bài tập kiểm tra ở lớp, lo sợ mình bị xếp loại học tập kém hoặc bị lưu ban. Nói tóm lại, lo âu học đường ở trẻ thể hiện qua ba mặt chính đó là mặt cơ thể, mặt hành vi và mặt cảm xúc. Nguyên nhân lo âu học đường Tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2008) trong nghiên cứu của mình cho rằng nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu phần lớn là do nhóm nguyên nhân liên quan đến gia đình (chủ yếu liên quan đến kinh tế gia đình chiếm 68.89%), nhóm liên quan đến học tập (chủ yếu liên quan đến yếu tố phải thi đậu đại học chiếm 96.7%), nhóm liên quan đến cá nhân học sinh (chiếm 98.9% yếu tố liên quan đến cảm thấy thua kém bạn bè), nhóm liên quan đến các mối quan hệ xã hội (chiếm 28.