phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục thì cấu trúc luận văn có 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vấn đề lo âu học đường ở học sinh THPT. Chƣơng 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu về lo âu ở học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU HỌC ĐƢỜNG Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về lo âu học đƣờng ở học sinh 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài * Nghiên cứu về lo âu Lo âu được phát hiện và nghiên cứu từ rất sớm bởi Hypocrate (460 và mất khoảng năm 38-370 TCN) ông đã đề cập đến sự “lo âu với ý nghĩa là một bệnh lý” Trong tác ph m “Aphorism” ông đã mô tả rõ lại sự sợ hãi của những đứa trẻ như một bệnh lý với các triệu chứng: sinh lý như nôn mửa và tâm lý sợ bóng tối (Wendy K.Silverman và cộng sự, 2001) [43] Trong suốt thời gian này, lo âu được nói rất nhiều nhưng chủ yếu vẫn trong lĩnh vực đạo đức, tư tưởng, văn học – vẫn được xem như dục vọng trong tâm hồn, suy nghĩ của ma quỷ. Người ta không chú ý nghiên cứu về bản chất các loại cảm xúc mà chỉ tìm cách kìm hãm nó. Lo âu dần được thần thoại hóa và lãng mạn hóa, được cho là cách thể hiện sự u sầu, lo lắng chứ không phải là bệnh lý cần nghiên cứu (dẫn theo Lương Hữu Thông,2005) [13] Năm 1621, Robert Burton đã viết cuốn sách "The Anatomy of Melancholy” ông đã chia sẻ gợi ý về mối liên hệ chặt chẽ giữa cảm giác lo lắng và sợ hãi với các biểu hiện cơ thể như khó thở, mạch nhanh, đau tức vùng ngực, chóng mặt.
Richard Younge (1671) cho rằng lo âu chính là trạng thái phiền muộn, mệt mỏi với các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày, lo âu là sự bất thường về mặt tâm lý. Đầu thế kỷ XVIII, thuật ngữ lo âu được y học nhắc tới và được cho là rối loạn tâm thần. Sách giáo khoa về tâm thần học đầu tiên ở Anh quốc do tác giả William Batter (1703-1776) viết, ông đã phân biệt được sự khác nhau giữa "điên loạn” và “lo âu". Khi nghiên cứu về các biểu hiện của lo âu, Benedict Morel (1869 - 1873) đã khẳng định rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi ở hệ thần kinh tự trị [39].
Vào năm 1871, Jacob DaCosta đã mô tả các triệu chứng tim mạch mãn tính mà không có tổn thương cơ thể và có liên quan đến những than phiền về mệt mỏi, lo lắng và buồn phiên. DaCosta đã mô tả các triệu chứng của lo âu gọi là trạng thái tim bị kích thích (Nguyễn Thị Bình, 2010) [21]. Charles Darwin vào năm 1872 trong tác ph m "Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật" (The Expression of Emotions in Man and Animals) đã mô tả rõ về nguồn gốc, bản chất của sợ hãi và lo âu. Mô tả: “Con người trải qua các thế hệ đã có gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo du ngày một tăng lên”.
Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể bất cứ bộ 5 phận nào. Từ đó, tâm lý học và tâm thần học bắt đầu nghiên cứu về lo âu và mô tả bản chất của nó (dẫn theo Đặng Bá Lãm , 2007) [3] Năm 1844, Kerkgard- nhà tâm thần học, y học người Đan Mạch đã sử dụng thuật ngữ Angest để chỉ trạng thái lo âu ở con người. Năm 1866, Morel đã gộp những trạng thái lo âu lại với nhau và ông gọi là “Hoang tưởng cảm xúc”, trạng thái này khác với chứng Hysterie và bệnh hypochondria. Có lẽ sự kiện có sức thuyết phục nhất trong lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là học thuyết của Freud (1895) về chứng suy nhược thần kinh, trên cơ sở phân tích các hiện tượng lâm sàng rối loạn ám ảnh, Freud đã đề xuất thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu”, ông cho rằng sở dĩ các bệnh nhân có chứng nhiễu tâm lo âu là do xung đột của nội tâm vô thức.
Thuật ngữ này của của S.Freud đã được khá nhiều người chấp nhận và được sử dụng trong thời gian dài từ đầu thế kỷ XX cho đến những năm 60 của thế kỷ này – được dẫn chứng trong tài liệu học tập nhận diện, lượng giá can thieetjp tâm lý trẻ em gặp rối loạn học tập trong bối cảnh học đường từ khoa tâm lý, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, 2017 [9]. Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược thần kinh và được cho là bệnh ly tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có kèm lo âu thờ Freud có liên quan đến những yếu tố sinh học cơ thể. Tuy không có bằng không khoa học chính xác nhưng học thuyết này cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới về làm sung. Quan điểm về bệnh học này đã để lại ảnh hưởng suốt một thời gian dài những năm đầu thế kỷ XXI.
Tuy không có những bằng chứng khoa học xác đáng nhưng học thuyết này cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của RLLA và thể hiện một cách nhìn mới (Dan J.Stein và cộng sự 2002) [39]. Năm 1964, nhà tâm lý học và dược lý học tâm thần Klein đã tách hội chứng lo âu toàn thể (general anxiety syndrome) thành rối loạn hoảng sợ và rối loạn lo âu lan tỏa dựa trên sự đáp ứng đối với thuốc Imipramine. Theo nghiên cứu của Klein, rối loạn hoảng sợ đáp ứng với Imipramine còn rối loạn lo âu lan tỏa thì không đáp ứng. Có những ý kiến đồng thuận và không đồng thuận về quan điểm của Klein.
DSM- I (APA, 1952) và DSM- II (APA, 1968) đã sắp xếp các rối loạn tâm thần thành các rối loạn thứ phát từ lo âu và lo âu trở thành nguyên nhân gây ra những bất ổn định về tâm thần. DSM- III (APA, 1980) đã đồng thuận với quan điểm của Klein (về tình trạng lo âu toàn thể dai dẳng) và sắp xếp phân loại rối loạn này một cách hệ thống. DSM - III là tài liệu đầu tiên nghiên cứu về RLLA - sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng trong hiểu biết của chúng ta về lo âu trong tâm thần học. Tiếp theo đó là DSM-III-R (APA,1987), DSM - IV (APA,1994) và DSM-IV-TR (APA,2000), rối loạn lo âu lan tỏa được bổ sung với mức độ tinh tế hơn về bố cục sắp xếp, tiêu chu n ch n đoán, bản chất, cơ chế, các rối loạn phối hợp… bằng kết quả của những nghiên cứu mới (dẫn theo Đặng Phương Kiệt 2000) [4].
6 Năm 1988, WHO đã sử dụng DSM- III để làm tài liệu tham khảo để soạn thảo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi (ICD- 10). Năm 1992 ICD- 10 được WHO công bố và áp dụng chính thức trên toàn thế giới đến nay (Geneva, 1992) [7]. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10, 1992) thì lo âu có sự kết hợp chặt chẽ với các nguyên nhân tâm lý. Trong đó, lo âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến Stress và dạng cơ thể (Geneva, 1992) [7].
Đến năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đã đưa ra bảng phân loại DSM- IV, trong đó mỗi loại rối nhiễu tâm thần được khái niệm hóa như là một nhóm các triệu chứng bất thường về tâm lý hoặc những mẫu hành vi ứng xử bất thường đều có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Chúng xảy ra ở một cá nhân và liên quan đến các triệu chứng stress tiêu cực hoặc liên quan đến việc làm mất năng lực của cá nhân, tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân thông qua việc phải chịu đựng những cảm giác tiêu cực như: ám ảnh về cái chết, sự đau khổ, sự mất năng lực, sự mất tự do của cá nhân.Bất kể điều gì là nguyên nhân của những triệu chứng thì sự rối nhiễu hiện có phải luôn được xem là sự biểu hiện của sự suy giảm, thoái lui về chức năng dưới góc độ tâm lý, sinh lý xảy ra ở các cá nhân [37]. Hội tâm thần học Mỹ năm 2013 đã đưa ra bảng phân loại DSM- V, về cơ bản khái niệm về lo âu và các tiêu chí ch n đoán giống như DSM- IV nhưng trong phiên bản DSM- V có đề cập thêm yếu tố văn hóa trong việc ch n đoán các vấn đề về sức khỏe tâm thần (American Psychiatric Assciation, 2013)[36]. * Nghiên cứu lo âu học đường của học sinh Trong một báo cáo của Ollendick (1998) khi nghiên cứu 694 trẻ em được lựa chọn ngẫu nhiên trong độ tuổi từ 12-17, có tới 16% cho biết ít nhất đã một lần từng trải qua một cơn kịch phát hoảng sợ, đây là một dạng RILA ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe thể chất và tinh thần.
Một nghiên cứu khác về thực trạng lo âu ở trẻ em của M Prior và cộng sự (1983 – 2001) trên 2443 trẻ theo chiều dọc từ lúc sinh cho đến 18 tuổi. Kết quả cho thấy 42% những em có tính cách hay xấu hổ, nhút nhát, thu trình trước 9 tuổi thường có RLLA vào giai đoạn tuổi thiếu niên (dẫn theo Lê Duy Biên, 2012) [10]. Nghiên cứu nhóm tác giả Sibnath Deb, Pooja Chatterjee, Kerryann Walsh (2010) ở thành phố Kolkata, Ấn Độ, với mẫu nghiên cứu 460 thanh thiếu niên (gồm 220 năm và 240 nữ) từ 13 tuổi đến 17 tuổi (lớp 9 đến lớp 12) được chọn để tham gia nghiên cứu và sử dụng thung lượng giả STAI (State trait anxiety inventory Spielberger. Gorsuch và Lushen 1970), kết quả cho thấy tỉ lệ RLLA chiếm khoảng 20,1% đối với học sinh nam (45/220) và 17,9% nữ (43/240).
Theo Deb, (2001) nguyên nhân chính của sự RLLA ở thành thiếu niên Ấn Độ cao là do kỳ vọng của cha mẹ và áp lực thành tích học tập, khi so sánh tỉ lệ RLLA giữa học sinh ở trường Bengali 24,6 % cao hơn học sinh trường English chỉ 21,6 %. Nhóm kinh tế - xã hội so sánh tỉ lệ RILA cao nhất là nhóm kinh tế - xã hội có mức thu 7 nhập trung bình 30%, tiếp theo mức thu nhập thấp 28,6% cuối cùng là nhóm kinh tế - xã hội có thu nhập cao 23.