CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI LỆCH CHUẨN HỌC ĐƯỜNG Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ HÀNH VI LÀM CHA MẸ Dựa trên sự phân tích, tổng hợp và khái quát tài liệu, tổng quan nghiên cứu tập trung vào ba hướng tiếp cận sau: (1) Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ và các vấn đề của con; (2) Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ và hành vi lệch chuẩn học đường ở HS THPT; (3) Tổng quan nghiên cứu về phương pháp kiểm tra, đánh giá hành vi làm cha mẹ và hành vi lệch chuẩn ở thanh thiếu niên. Mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ và các vấn đề của con Một trong những chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất trong những thập kỷ qua là nghiên cứu tập trung vào hành vi làm cha mẹ trong mối tương quan với sự phát triển của con. Do đó, bất kỳ mô hình lý thuyết hoặc nghiên cứu thực nghiệm nào được thiết kế để giải thích sự phát triển những vấn đề của trẻ đều phải tính đến sự ảnh hưởng của việc nuôi dạy con cái trực tiếp hoặc gián tiếp từ cha mẹ hay người chăm sóc (McKee, Johnes, Forehand, & Cuellar, 2013). Trong nội dung này, chúng tôi khái quát sự ảnh hưởng của hành vi làm cha mẹ đến một số vấn đề liên quan đến hành vi và cảm xúc của con.
Đầu tiên phải kể đến các nghiên cứu của Baurmind trải dài qua hai thập kỷ (1971/1991) đã đưa ra nhiều đóng góp rất có giá trị cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ và hành vi của con. Bằng các nghiên cứu thực tiễn của mình, bà khẳng định, hành vi làm cha mẹ thường xuất phát từ hai nhu cầu, đó là sự đáp ứng (responsiveness) nhu cầu của con và sự đòi hỏi (demandingness) của cha mẹ đối với con. Từ đó, bà đưa ra cấu trúc tâm lý của việc nuôi dạy con gồm ba thành tố, đó là sự hỗ trợ của cha mẹ (support), sự kiểm soát hành vi của con (behavioral control) và sự kiểm soát tâm lý con (psychological control). Trong đó, sự hỗ trợ của cha mẹ (hay nuôi dạy con cái tích cực) đề cập đến 19 mức độ mà cha mẹ chủ động khuyến khích từng cá nhân trẻ, tự điều chỉnh, tự khẳng định bằng cách hỗ trợ và chấp nhận những nhu cầu và đòi hỏi đặc biệt của con.
Kiểm soát hành vi đề cập đến kiểu thực hành nuôi dạy con cái nhằm hạn chế hoặc thay đổi những hành vi không mong muốn ở trẻ. Còn kiểm soát tâm lý đề cập đến việc thực hành nuôi dạy con cái theo kiểu áp đặt nhằm đạt được sự tuân thủ của trẻ, đồng thời can thiệp vào sự phát triển tâm lý của trẻ. Tương đồng với ba mô hình làm cha mẹ, Baumrind đã đưa ra bốn phong cách giáo dục tương ứng của cha mẹ liên quan đến sự hình thành các hành vi khác nhau ở thanh thiếu niên, đó là phong cách Độc đoán, Uy quyền, Thờ ơ/bỏ mặc và Nuông chiều (Diana Baurind, 1991). Theo Baurmind, cha mẹ độc đoán là những bậc cha mẹ rất khắt khe, họ thường đưa ra các yêu cầu, quy định, giới hạn một cách gắt gao để buộc con phải tuân theo mà không được phép tranh luận.
Những cha mẹ kiểu này thường phớt lờ suy nghĩ, cảm xúc của con. Con cái trong những gia đình này thường trải qua cảm giác lo âu, tự ti, sợ hãi, sự thích nghi và khả năng giao tiếp kém. Những bậc cha mẹ thờ ơ và nuông chiều được gọi là mẫu cha mẹ dễ dãi. Cha mẹ thờ ơ thường không quan tâm đến cuộc sống của con cái, chẳng hạn con đi đâu, làm gì, gặp ai, học hành như thế nào, có cảm xúc vui buồn ra sao… Nói chung những cha mẹ kiểu này thường là “con muốn làm gì thì làm, bố mẹ không quan tâm”.
Những đứa trẻ đang trong giai đoạn trưởng thành, rất cần sự định hướng, quan tâm của cha mẹ nhưng lại không nhận được sự hỗ trợ từ cha mẹ nên kỹ năng thích ứng xã hội kém, có hành vi tự do hoang dã, kém tự chủ. Ngược lại với thờ ơ là cha mẹ nuông chiều, nghĩa là cha mẹ luôn sẵn sàng đáp ứng một cách vượt quá sự mong đợi các nhu cầu của con. Chúng có thể làm bất cứ điều gì chúng muốn mà cha mẹ không bao giờ đưa ra bất cứ một yêu cầu, đòi hỏi, hay giám sát nào. Các cha mẹ này lầm tưởng rằng sự nuông chiều sẽ giúp con cái tự tin, hạnh phúc, sáng tạo.
Tuy nhiên, trên thực tế, Baurind cho rằng kiểu cha mẹ hết sức dễ dãi này rất dễ trở thành đối tượng thao túng của con cái. Mặt khác, không như những gì cha mẹ hình dung, chờ đợi, những đứa trẻ này thường kém tự chủ, luôn thụ động, vô tâm, cá biệt có nhiều trẻ hung hăng, thích gây hấn và không thể kiểm soát được cảm xúc cũng như 20 hành vi của mình. Ngược lại với tất cả các mô hình làm cha mẹ trên, kiểu cha mẹ quyền uy là những cha mẹ luôn khuyến khích con cái độc lập. Họ sẵn sàng hỗ trợ và đáp ứng các nhu cầu chính đáng của con nhưng vẫn đặt ra những giới hạn và sự kiểm soát cần thiết.
Những bậc cha mẹ này thường chọn cách tôn trọng, lắng nghe, chia sẻ với con thay vì áp đặt con. Những đứa trẻ có cha mẹ uy quyền thường tự tin, độc lập, có kỹ năng giao tiếp và kiểm soát bản thân tốt. Các kết quả nghiên cứu về sau này của Diana Baurind, Maccoby và Martin (1983) đều khẳng định, nếu thực hiện tốt kỹ thuật cha mẹ uy quyền sẽ làm giảm những hành vi có vấn đề và cải thiện thành tích học tập của thanh thiếu niên. Chính Maccoby và Martin đã phát triển mô hình của Baumrind về phong cách giáo dục của cha mẹ thành bốn kiểu phong cách làm cha mẹ là Dân chủ (authoritative), Độc đoán (authoritarian), Tự do/Dễ dãi (permissive) và Bỏ mặc/Thờ ơ (neglectful).
Trong đó, những cha mẹ có phong cách bỏ mặc/thờ ơ thường đáp ứng rất ít nhu cầu, đòi hỏi của con và cũng rất ít kiểm soát con. Một nghiên cứu khác từ Brook và cộng sự (1997) đã chỉ ra rằng sự gắn bó, sự hỗ trợ và sự gần gũi của cha mẹ với trẻ trong suốt thời thơ ấu và giai đoạn thanh thiếu niên mang đến những tác động có lợi cho sự phát triển của trẻ như khiến trẻ cảm thấy được bảo vệ, giúp chúng chống lại nỗi đau khổ tâm lý và những cam kết loại trừ hoặc giảm thiểu các hành vi lệch chuẩn (Brook và cộng sự, 1997). Liên quan đến hành vi dửng dưng và hành vi hỗ trợ thấp của cha mẹ, Barrera và Li (1997) khẳng định rằng điều này sẽ dẫn đến một số khó khăn của trẻ trong quá trình trưởng thành như cảm giác tự ti, lo âu, khả năng thích nghi xã hội kém. Khá tương đồng với nhận định trên, nghiên cứu của Grootevant và Cooper (1999) cho thấy sự hỗ trợ thấp (dửng dưng) của cha mẹ thường làm phát sinh ở trẻ các khó khăn tâm lý và các vấn đề rối loạn hành vi như sự nổi loạn, chống lại các quy tắc trong gia đình, học đường, bắt nạt bạn, mang vũ khí tới lớp và hành vi trộm cắp.
Bằng một bảng hỏi được thực hiện trên số lượng mẫu là 1.186 trẻ chưa thành niên tại Thụy Điển và cha mẹ chúng, hai tác giả Stattin và Kerr (2000) đã sử dụng 21 một bảng kiểm để đo các khía cạnh làm cha mẹ và nhận thấy rằng, các biến số như kỷ luật thất thường mang tính đe dọa của cha, sự hắt hủi về mặt cảm xúc của mẹ, sự thiếu giám sát của cả cha và mẹ là nguyên nhân khiến trẻ có xu hướng hung tính, rối loạn lo âu, tự đánh giá thấp bản thân, và xu hướng thoái lui, mặc cảm tự ti. Một số nghiên cứu của Bystrisky (2000), Petito và Cumming, (2000), Stattin và Kerr (2000), Barner (2002) sử dụng thang đo CRPBI nhận thấy cha mẹ nào có mức độ hỗ trợ con cao sẽ khiến trẻ đạt kết quả tích cực như sự tự tin, hiệu quả học tập tốt, ít có hành vi lệch chuẩn. Ngược lại, sự kiểm soát (cả về tâm lý và hành vi) quá chặt chẽ của bố mẹ làm gia tăng hành vi lệch chuẩn như trộm cắp, sử dụng chất kích thích, có xu hướng ưa sử dụng vũ khí gây sát thương, khó khăn trong các giao tiếp xã hội (dẫn theo Born, 2003, tr. Nghiên cứu của Patterson (2002) trên nhóm trẻ từ 15 đến 18 tuổi, sử dụng bộ “Bảng kiểm về các khía cạnh làm cha mẹ” của Slate & Power (1987) cho thấy, các mối quan hệ cha mẹ được đặc trưng bởi sự cưỡng bức, chuyên quyền, xa cách, thù địch đều là những dấu hiệu của rối loạn chức năng gia đình, tạo nên những khó khăn cá nhân ở thanh thiếu niên.
Những đứa trẻ sống trong các môi trường gia đình như vậy đều có nguy cơ gia tăng các hành vi lệch chuẩn như gây hấn, phá hoại tài sản, trộm cắp và sử dụng các chất kích thích (rượu, ma túy). Một mô hình cha mẹ cưỡng bức sẽ tạo ra những đứa trẻ thường xuyên nổi giận, chống đối quyết liệt, thô lỗ, không vâng lời, không kết nối được với cha mẹ, không thích ứng với xã hội (Born & Thys, 2001/2003). Nghiên cứu của Barner (2002), Pychyl, Coplan, và Reid (2002), Beyers và Goossens (2003) trên hàng ngàn thanh thiếu niên ở Mỹ cũng cho thấy hành vi kiểm soát thái quá của cha mẹ có mối liên hệ chặt chẽ với các hành vi tiêu cực của trẻ, bao gồm sự hung hăng, sự suy giảm về cảm xúc tích cực, gia tăng sự tự ti và trầm cảm (Born, 2003). Tương đồng với kết quả này, Born (2003) chỉ ra sự giám sát lỏng lẻo của cha mẹ có liên quan chặt chẽ với hành vi hung hăng, trộm cắp, đánh nhau ở trẻ, đến mức, có giả thiết rằng, dường như cha mẹ đã hoàn toàn “bỏ quên” con cái.
22 Một nghiên cứu đối sánh của Glueck và Glueck (2003) trên 438 trẻ phạm tội ở trường giáo dưỡng và 442 trẻ không phạm tội, dựa trên thang tự báo cáo hành vi lệch chuẩn của Alligaton (1980) và bảng kiểm kê báo cáo của trẻ về hành vi của cha mẹ (Schluderman & Schluderman (1971) đã đưa ra kết quả rằng, những đứa trẻ phạm tội thường ở trong các gia đình mà hành vi đặc trưng của cha mẹ là sự hỗ trợ yếu và sự kiểm soát lỏng lẻo (dẫn theo Born, 2003, tr.