phần mở đầu, phụ lục và danh mục đề tài liệu tham khảo, đề tài chúng tôi chia làm 3 chương: + Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài + Chương 2: Tổng quan vài nét về vấn đề giáo dục giới tính + Chương 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận Khuyến nghị. CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 18 1. Các khái niệm liên quan. Giáo dục giới tính12.
Là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh dục , sinh sản , quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai , và các khía cạnh khác của thái độ tình dục của loài người. Những cách giáo dục giới tính thông thường là thông qua cha mẹ, người chăm sóc, các chương trình trường học và các chiến dịch sức khoẻ cộng đồng. Giáo dục giới tính có thể được dạy một cách không chính thức, như khi một ai đó nhận được thông tin từ một cuộc trò chuyện với cha mẹ, bạn bè, người lãnh đạo tôn giáo, hay qua truyền thông. Nó cũng có thể được truyền dạy qua các tác giả với các tác phẩm về giới tính, chuyên mục báo chí, hay qua các trang web về giáo dục giới tính.
Giáo dục giới tính chính thức diễn ra khi các trường học hay người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thực hiện điều này. Thỉnh thoảng giáo dục giới tính chính thức được dạy như một chương trình đầy đủ như một phần của chương trình học tại các trường trung học hay trung học cơ sở. Ở những trường hợp khác nó chỉ là một bài học bên trong một lớp học rộng hơn về sinh học, sức khỏe, kinh tế gia đình hay giáo dục thể chất. Một số trường không dạy giáo dục giới tính, bởi nó vẫn là một vấn đề gây tranh cãi ở một số quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ (đặc biệt về vấn đề độ tuổi trẻ em cần nhận được sự giáo dục như vậy, số lượng chi tiết liên quan, và các chủ đề về khuynh hướng tình dục ví dụ như cách thực hiện, tình dục an toàn, thủ dâm, tình dục trước hôn nhân và đạo đức tình dục).
Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Theo “quan điểm triết học Mác-Lênin”, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Nhận thức còn là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, sự phản ánh đó không phải là hành động nhất thời, máy móc, đơn giản, thụ động mà là 12 Trích nguồn từ thư viện giáo án điện tử) 13 http://vi.org/wiki/Nh%E1%BA%ADn_th%E1%BB%A9c 19 cả một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực, sáng tạo. Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.
Một khái niệm khác lại cho rằng: Nhận thức là hành động (quá trình) con người tìm hiểu thế giới tự nhiên. Trong quá trình này, con người lý giải vạn vât theo từng giai đoạn nhận thức của mình; từ đó tìm ra qui luật vận động và phát triển, thay đổi và tiến hóa, bản chất và hình thức, hình thành và tiêu vong của thế giới vật chất và tinh thần. Do yêu cầu của lao động, của cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh, qua đó con người nhận thức được các nétcơ bản của sự vật hiện tượng (Ví dụ con người gò đá thấy lửa) Cứ như vậy, nhận thức của con người ngày càng được mở rộng. Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tưduy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũngnhư không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan.
Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: “Nhận thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá,được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng. Hiểu nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá,… Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phảnánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”. Như vậy, nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mứcđộ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất).
Các quan niệm khác về nhận thức: “Nhận thức là hành động bằng trí tuệ, để hiểu biết các sự vật hiện tượng”. Như vậy, Nhận thức và trí tuệ được đồng nhất như nhau. Nhờ hoạt động trí tuệ này mà con người mới hiểu biết được sự vật hiện tượng. Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng :” Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm; Nhận thứccảm tính và Nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau vàcơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của Nhận thức là thực tiễn xã hội “ 20 Khái niệm của nhà Tâm lý học người Đức đã phản ánh tương đối đầy đủ nội hàm của Nhận thứcvà chúng ta sử dụng khái niệm này.
Vị thành niên. Vị Thành Niên14 là người đang chuyển tiếp từ trẻ con sang người trưởng thành. Tuổi từ 10 – 19 tuổi ( Theo WHO ) và chia làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn đầu: 10 tuổi – 13 tuổi. - Giai đoạn giữa: 14 tuổi – 16 tuổi.
- Giai đoạn sau: 17 tuổi – 19 tuổi. Theo giáo án điện tử15 thì vị thành niên là một giai đoạn ( một thời kỳ ) trong quá trình phát triển của con người với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng để đạt tới sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội và định hình nhân cách để có thể nhận lãnh trách nhiệm đầy đủ trong cuộc sống sau này. Giai đoạn này được hiểu một cách đơn giản là giai đoạn “sau trẻ con và trước người lớn” của mỗi cá thể, được gọi là thời kỳ “vị thành niên”. Về độ tuổi của vị thành niên, Tổ chức Y tế thế giới cũng đã chính thức đề nghị vị thành niên là những người có độ tuổi từ 10 – 19 tuổi.
Tuổi vị thành niên được chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu (tiền vị thành niên): 10 – 13 tuổi. Giai đoạn giữa (trung vị thành niên): 14 – 16 tuổi. Giai đoạn cuối ( hậu vị thành niên): 17 – 19 tuổi. Việc phân định này cần thiết để kết hợp phát triển sinh học và tâm lý xã hội từng thời kỳ.
Căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam, năm 1995, Vụ Bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ – Bộ Y tế đã đưa ra đề nghị xếp tuổi VTN thành hai nhóm tuổi, nhóm một từ 10 – 14 tuổi và nhóm hai từ 15 – 19 tuổi. Theo trang thanhnien.net16 thì tuổi vị thành niên là một giai đoạn đặc biệt của đời người, giai đoạn này được đánh dấu bằng những thay đổi đồng loạt và xen lẫn nhau từ đơn giản sang phức tạp… Một giai đoạn đặc biệt của đời người, giai đoạn này được đánh dấu bằng những thay đổi đồng loạt và xen lẫn nhau từ giản đơn sang phức tạp bao gồm: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh về tâm lý và các quan hệ xã hội,chuẩn bị cho một cơ thể trưởng thành cả về thể chất và tâm lý xã hội.vn/suc-khoe-sinh-san-vi-thanh-nien/ 15 (trích nguồn từ thư viện giáo án điện tử) 16 http://thanhnienviet.vn/vi-VN/t221c320p2410/Hoi-Tuoi-vi-thanh-nien-la-gi.aspx 21 Theo tổ chức Y tế thế giới thì tuổi Vị thành niên là giai đoạn từ 10-19 tuổi. Căn cứ vào mức độ phát triển thể chất, tâm lý xã hội và nhu cầu, tuổi VTN được chia làm ba giai đoạn nhỏ hơn: - Giai đoạn đầu tuổi VTN (10-13) - Giai đoạn giữa tuổi VTN (14-16) - Giai đoạn cuối tuổi VTN (17-19) Ở tuổi VTN, các em phải đương đầu với hàng loạt thách thức như sự biến đổi nhanh về thể chất, tâm sinh lý, tình yêu, tình bạn, những hiện tượng sinh lý sinh dục mới xuất hiện (cường dương, kinh nguyệt, sự ham muốn về tình dục), sự lôi kéo và sức ép từ phía bạn bè, chưa có hiểu biết và chưa được trải nghiệm các kĩ năng tự bảo vệ, khó khăn trong mới quan hệ với người lớn…Tất cả những điều đó làm các em dễ lung túng và gặp những nguy cơ trong giai đoạn này. Giả thiết nghiên cứu.
Giả thiết 1: Do nhận thức sai về tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính nên những bậc cha mẹ không coi trọng việc giáo dục giới tính cho con cái của họ. Giả thiết 2: Giới tính là một vấn đề nhạy cảm nên những bậc cha mẹ gặp khó khăn trong việc nói chuyện và giáo dục về vấn đề này. Giả thiết 3: Do những bậc cha mẹ thiếu thông tin về những vấn đề liên quan đến giới tính nên không thể chia sẻ với con của mình. Khung nghiên cứu.
22 CHƯƠNG II GIÁO DỤC GIỚI TÍNH LÀ THỰC SỰ CẦN THIẾT. Những nhìn nhận về vấn đề giáo dục giới tính. Mỗi một vùng, lãnh thổ, quốc gia khác nhau với những nền văn hóa đặc trưng thì có những thái độ khác nhau về giáo dục giới tính. Theo như Ford và Baech, 1951 cho rằng: Các nền văn hóa rất khác biệt nhau trong việc giáo dục giới tính và chuẩn bị cho thanh niên về cuộc sống tình dục.
Như trên đảo Ponape, trẻ em từ 4 đến 5 tuổi được người lớn giáo dục tình dục một cách kỹ lưỡng và khuyến khích thực hành với nhau. Trong tộc người Chewa ở Châu Phi bố mẹ cho rằng thực hành tình dục sẽ làm cho cá nhân hoàn hảo, với sự đồng ý của bố mẹ trẻ trai và trẻ gái làm lều chơi trò vợ chồng với nhau. Hoặc theo như các hiện vật đời xưa để lại cho thấy ở Trung Quốc các cô gái khi về nhà chồng thường được mẹ đặt trong rương quần áo, hay hộp của hồi môn những món quà quý giá nhất.