CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC GIỚI CHO HỌC SINH LỚP 4 TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giới và giới tính 1.
Khái niệm về giới và giới tính Giới và giới tính là hai thuật ngữ mà chúng ta thường nghe đến, tuy nhiên, thực tế là nhiều người vẫn mắc phải những hiểu lầm và tranh cãi xoay quanh ý nghĩa của chúng. Có người cho rằng cả hai khái niệm này không có gì khác biệt, đơn thuần chỉ là để phân loại nam và nữ. Tình trạng này thường tạo ra sự mơ hồ và gây hiểu lầm về sự đa dạng của vấn đề giới trong xã hội, bỏ qua những khía cạnh quan trọng như định kiến, định hình xã hội, và sự đa dạng cá nhân trong cảm nhận và biểu hiện của giới tính. Điều này làm mất đi cơ hội để thấu hiểu sâu hơn về sự phong phú và phức tạp của ngôn ngữ và xã hội xung quanh giới và giới tính.
a) Khái niệm giới Theo UNESCO (2012), “Giới đề cập đến vai trò và trách nhiệm của nam giới và phụ nữ được tạo ra trong gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta”. Khái niệm giới cũng liên quan tới “những mong đợi về đặc điểm, khả năng và những hành vi, ứng xử của cả phụ nữ và nam giới (nữ tính và nam tính)” [31]. Theo Luật Bình đẳng giới (2006), “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [23]. Nói cách khác, “giới là một khái niệm xã hội và văn hóa nhằm xác định và phân biệt các vai trò, đặc điểm và trách nhiệm khác nhau của nam và nữ” [32].
Ví dụ: Trong xã hội nhiều người vẫn giữ quan điểm rằng nam giới thích kỷ luật, chính trực, thích thể hiện sự mạnh mẽ trong quản lý và lãnh đạo. Trong khi đó, nữ giới thì thường được liên kết với sự nhân hậu, quan tâm đến mối quan hệ, và có kỹ năng giao tiếp tốt. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp mà nam giới thể hiện sự nhân hậu, quan tâm đến mối quan hệ và nữ giới lại thể hiện sự mạnh mẽ, quyết đoán trong lãnh đạo. Ví dụ, một người đàn ông có thể chọn sự nghiệp chăm sóc sức khỏe hoặc trở thành một 11 giáo viên nổi tiếng với tinh thần nhân đạo mạnh mẽ.
Ngược lại, một phụ nữ có thể trở thành CEO của một công ty và thể hiện sự quyết đoán, sáng tạo trong quản lý. Những ví dụ này chỉ ra rằng các đặc điểm và vai trò truyền thống của nam và nữ giới có thể được thay đổi và mở rộng dựa trên khả năng, sở thích, và tính cách cá nhân của mỗi người. Như vậy, khái niệm về giới không chỉ đơn thuần là một phân loại dựa trên đặc điểm sinh lý mà còn phản ánh một hệ thống xã hội quy định vai trò, trách nhiệm, và mong đợi của nam giới và phụ nữ trong gia đình, xã hội và nền văn hóa. Điều này thể hiện sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa và xã hội đối với quan điểm về giới tính.
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm Giới theo Luật Bình đẳng giới. b) Khái niệm giới tính Theo điều 5 khoản 1, Luật Bình đẳng giới (2016) đưa ra khái niệm như sau: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ” [23]. Hoàng Phê (2003) chỉ ra rằng: “Giới tính là những đặc điểm chung phân biệt nam và nữ, giống đực và giống cái” [22, tr. Giới tính “là những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, cũng như các đặc tính sinh học phân biệt nam và nữ.
Một người có thể là nam hoặc nữ bất kể chủng tộc, tầng lớp, tuổi tác hoặc sắc tộc. Tuy nhiên, ý nghĩa xã hội gắn liền với sinh học của một người có thể khác nhau tùy thuộc vào dân tộc của họ. Một số người có thể có đặc tính sinh học của cả hai phái, nam và nữ, bởi sự phức tạp về mặt thể chất của họ [33]. Giới tính là khái niệm “chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học)”.
Ví dụ, phụ nữ có bộ phận sinh dục nữ và có thể mang bầu, sinh con và cho bú bằng chính bầu sữa của mình, còn nam giới có bộ phận sinh dục nam và có thể sản xuất ra tinh trùng [8]. Theo UNESCO “giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, cũng như các đặc tính sinh học phân biệt nam và nữ. Do đó, một người có thể là nam hoặc nữ bất kể họ thuộc chủng tộc, tầng lớp, tuổi tác hoặc sắc tộc nào” [35]. 12 Như vậy, Giới tính là “những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, cũng như những đặc tính sinh học phân biệt nam và nữ (Dáng vẻ, cách ứng xử, ăn mặc, sở thích, hành vi,.), nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường sống, hoàn cảnh xã hội, nền văn hóa của môi trường đó.
Giới tính của mỗi người có sẵn từ khi sinh ra, không thay đổi theo thời gian, không khác biệt giữa các xã hội, thời kì”. Trong đề tài này, chúng tôi đồng nhất với khái niệm của UNESCO. Phân biệt giới và giới tính Giới và giới tính là hai khái niệm khác nhau mà thường được sử dụng để diễn đạt về các khía cạnh liên quan đến bản dạng sinh học và xã hội của con người. Dưới đây là sự phân biệt giữa giới và giới tính: Bảng 1.
Phân biệt giới và giới tính. Giới tính Giới Đặc điểm sinh học khác nhau giữa Cách ứng xử, vai trò, hành vi mà xã hội mong nam và nữ (sinh ra đã có) đợi ở nam và nữ (không phải sinh ra đã có mà là một quá trình hình thành bởi xã hội) Con người sinh ra đã thuộc về một Con người được dạy và phải học về các vai giới tính nhất định và không thay trò giới trong quá trình trưởng thành, giao tiếp đổi theo thời gian xã hội. Điều này có thể thay đổi theo thời gian. Giới tính của một người ở nơi nào Giới và vai trò giới khác nhau theo phong tục cũng vậy tập quán, theo vùng và thời gian Khó hoặc không thay đổi được Có thể thay đổi theo thời gian Như vậy, để thấy rằng nếu như giới tính chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học).
Thì ngược lại, giới “không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành”. Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các “hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của 13 nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định” [8]. Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị,… Những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới. Giáo dục giới cho học sinh tiểu học * Khái niệm giáo dục Theo Phạm Viết Vượng, tuỳ vào mỗi góc độ tiếp cận mà GD có mỗi cách định nghĩa khác nhau.
Tiếp cận trong phạm vì GD nhà trường: “GD được hiểu là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới HS nhằm giúp cho họ nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách. Đó là quá trình sư phạm, bao gồm: quá trình dạy học và quá trình GD theo nghĩa hẹp. GD (theo nghĩa hẹp) được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu. Ở cấp độ này, khái niệm GD ngang hàng với khái niệm dạy học" [ 51 , Tr 19] Trong Từ điển Giáo dục học, khái niệm GD được định nghĩa: "GD là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội" [ 27 , Tr 88] Như vậy, giáo dục là một quá trình học tập liên tục mà có thể diễn ra trong các cơ sở giáo dục truyền thống như trường học, đại học, trung tâm đào tạo, hoặc trong cộng đồng, với gia đình và những người xung quanh chúng ta.
Giáo dục tốt sẽ mang lại những công dân tốt cho xã hội. Bởi vậy mà người ta vẫn coi giáo dục và học tập là sự nghiệp cả đời. * Khái niệm GDG cho HS tiểu học 14 Giáo dục giới cho học sinh tiểu học là “quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục nhằm hình thành cho người nhận thức, hành vi, thái độ cư xử đúng đắn, bình đẳng về quyền, trách nhiệm, cơ hội của nam giới và nữ giới trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động trong gia đình, nhà trường và xã hội” 1. Khuôn mẫu giới và vai trò giới * Khuôn mẫu giới Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nghe thấy những câu nói như “Đàn ông phải mạnh mẽ, quyết đoán” hay “Phụ nữ phải dịu dàng, chu đáo”.
Những câu nói này phản ánh những khuôn mẫu giới tồn tại trong xã hội. Khuôn mẫu giới có thể gây ra những định kiến và phân biệt đối xử đối với nam và nữ. Chúng có thể khiến nam và nữ bị hạn chế trong việc phát triển và thể hiện bản thân.