MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài GDGT có tầm quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của một con người. Giúp các em có được kiến thức, hiểu biết toàn diện về các vấn đề của cở thể mà mình có thể gặp phải, sự thay đổi tâm sinh lý, từ đó biết được cách phòng tránh và giải quyết các vấn đề có thể gặp trong cuộc sống. Hiện nay GTGT cho học sinh ở Việt Nam nói chung và GDGT cho học sinh tiểu học nói riêng thì vẫn còn được lồng ghép vào các môn học như Đạo đức, Khoa học, Trải nghiệm sáng tạo, và giáo viên hiện nay vẫn con khá ngại ngùng trong khi truyền đạt kiến thức.
Ngày 30 tháng 12 năm 2010, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung Điều 40 và bổ sung điều 40a của Thông tư số 41/2010/TT- BGDĐT theo đó, độ tuổi của học sinh tiểu học là từ 6 đến 14 tuổi. Ở độ tuổi này nếu trẻ không được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính, cũng như cách thức và phương pháp bảo vệ bản thân khỏi những nguy cơ bị xâm hại thì sẽ ảnh hưởng xấu, tiêu cực đến sự phát triển tâm sinh lý của học sinh. Thủ tường Chính Phủ có Chỉ thị 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 về việc Tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em có chỉ thị Bộ giáo dục “Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục, nhà trường thực hiện các biện pháp bảo vệ trẻ em; rà soát các tiêu chuẩn trường học bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em, tăng cường giáo dục kiến thức về giáo dục và kỹ năng phòng tránh bạo lực, xâm hại trẻ em cho giáo viên và học sinh,…” (Chỉ thị 18/CT- TTg , 2017) Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em số 25/2004/QH11, được thông qua ngày 15/06/2004 trẻ dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập. (Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em, 2004) 1 Luật trẻ em số 102/2016/QH13 đã ban hành những quy định như sau: Theo dõi sức khỏe định kỳ cho phụ nữ mang thai và trẻ em theo độ tuổi.
Chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe ban dầu và tiêm chủng cho trẻ em. Tư vấn và hỗ trợ các trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp với độ tuổi theo quy định pháp luật. (Luật trẻ em, 2016) Thực hiện Quyết định số 1437/QĐ-TTg ngày 29/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc vì sự phát triển toàn diện trẻ em trong những năm đầu đời tại gia đình và cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án chăm sóc vì sự phát triển toàn diện trẻ em trong những năm đầu đời tại gia đình và cộng đồng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2019 – 2025 có chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo là “Chủ trì triển khai hỗ trợ giáo dục phù hợp cho trẻ em đến 8 tuổi; hỗ trợ giáo dục sớm cho trẻ em và triển khai giáo dục kỹ năng cho trẻ em trước tuổi đi học và học sinh tiểu học; hướng dẫn giáo dục phù hợp đảm bảo sự phát triển toàn diện trẻ em tại cộng đồng; triển khai thí điểm các mô hình theo chức năng của ngành.” (Quyết định số 1437/QĐ-TTg, 2018) Thị xã Bến Cát là một trong những đô thị trọng điểm về kinh tế của vùng Đông Nam bộ, với tập trung nhiều khu công nghiệp như khu công nghiệp Mỹ Phước 1,2,3, với lực lượng lao động nhập cư khá lớn kéo theo sự phức tạp của tội phạm, các tệ nạn, đặc biệt là vấn nạn xâm hại trẻ. Do đó, việc đặt nền móng cho việc giáo dục giới tính cho trẻ cần phải được quan tâm nhiều hơn.
Ở các trường tiểu học hiện nay, hoạt động giáo dục giới tính đã được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên hiệu quả hoạt động giáo dục giới tính vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nhận thức của CBQL, CSVC của nhà trường, sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường. Xã hội ngày càng phát triển, học sinh được tiếp cận với các phương tiện thông tin hiện đại. Những thông tin, bài viết, bàn luận và phim ảnh đề cập hoặc có liên quan đến các vấn đề giới tính có thể được tìm thấy một cách dễ dàng tại các nhà sách, trên mạng 2 internet hoặc chương trình truyền hình.
Thế nhưng công tác giáo dục giới tính lại còn khá mới mẻ, mặc dù đã được đưa vào một số nội dung học tập ở từng cấp học nhưng cũng chưa thật sự trở nên quen thuộc và gần gũi. Tại các trường tiểu học Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, với chất lượng giáo dục và trang bị cơ sở vật chất chưa đồng đều, công tác giáo dục giới tính thực hiện chưa đồng bộ, có nhiều khó khăn. Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lí hoạt động Giáo dục Giới tính cho học sinh ở các trường tiểu học tại Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp của thạc sĩ Khoa học Giáo dục,chuyên ngành Quản lí Giáo dục của mình. Mục đích nghiên cứu Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động GDGT và quản lí hoạt động GDGT, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động GDGT cho học sinh ở trường tiểu học tại Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, từ đó, đề xuất các biện pháp cải tiến công tác quản lí hoạt động GDGT cho học sinh ở các trường tiểu học này.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 3. Nghiên cứu ở nước ngoài Giới tính đã được quan tâm tìm hiểu, mặc dù rất sơ xài. Vấn đề giới tính được đề cập trong Kinh của Ấn Độ là “Kama Sutra”, Hazma cũng đề cập đến giới tính trong “Chuỗi ngọc của người yêu”, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius. Những nhà triết học Hy Lạp và La Mã như Hippocrates, Plato, Aistotle, Soranuss và Galen đã nghiên cứu, mô tả và bàn đến một loạt những vấn đề liên quan đến sinh sản, phương pháp tránh thai, hành vi tình dục, giáo dục giới tính.
(Phạm Chinh, 2015) Vấn đề giới tính nói chung và giáo dục giới tính nói riêng, đã được nghiên cứu nhiều từ thế kỉ XX. Mỗi vùng, lãnh thổ, quốc gia khác nhau với những nền văn hóa đặc trưng thì có những cách tiếp cận khác nhau về giáo dục giới tính. Cụ thể: Lênin cho rằng cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề về giới tính, vấn đề về hôn nhân gia đình được coi là vấn đề rất cấp bách. Các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học về y học, giáo dục học và tâm lý học đã đưa ra rất nhiều quan điểm 3 khoa học về việc giáo dục giới tính cho con người và coi đó là nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh.
Bên cạnh đó, họ cũng đưa ra nhiều phương hướng quan trọng trong việc giáo dục giới tính ở Liên Xô.X Macarenco khẳng định vai trò cần thiết và quan trọng của giáo dục giới tính đồng thời đưa ra những nguyên tắc, nội dung, phương hướng GDGT cho học sinh. (Mác-Ănggen, 1995) GDGT được xem là một mặt của giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh, tuy nhiên GDGT cũng chưa được chấp nhận rộng rãi. Vào những năm 30 của thế kỉ XX, GDGT được nghiên cứu toàn diện hơn về nội dung, phương pháp và việc tổ chức thực hiện. Đặc biệt đến năm 1981, hội đồng bộ trưởng Liên Xô (cũ) ra chỉ thị cho tất cả các trường THCS trong cả nước thực hiện chương trình giáo dục giới tính được biên soạn rất cụ thể cho các cấp.
Hơn nữa, nội dung chương trình giáo dục ở hai lớp cuối cấp II (lớp 8 và lớp 9) có thêm một môn học là đạo đức học và tâm lý học đời sống gia đình với những nội dung cũng khá phong phú và bổ ích. Việc thực hiện nội dung đề ra vẫn chưa thống nhất. Đến năm 1960, GDGT mới được khẳng định và nghiên cứu rộng rãi, hoàn chỉnh dần. GDGT được nghiên cứu sâu về mục đích, nội dung phương pháp.
(Mác-Ănggen, 1995) Các nước Đông Âu như: Đức, Balan, Hungrari, Tiệp Khắc.và các nước Tây Âu, Bắc Âu đều coi giáo dục tình dục là một vấn đề lành mạnh, đem lại tự do cho con người vì vậy họ quan niệm: cần nói rõ cho mọi người hiểu biết những quy luật hoạt động tình dục. Chương trình GDGT của họ rất đa dạng, các trường có thể tự chọn các vấn đề phù hợp với đối tượng để giảng dạy. (Phạm Chinh, 2015) Năm 1942, Bộ GD Thụy Điển thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập cho các bậc học từ tiểu học đến trung học. Tại Thụy Điển, giáo dục giới tính là môn học bắt buộc trong trường học từ năm 1956 và bắt đầu cho học sinh lớp 4 hoặc lớp 6 đến các cấp học cao hơn.
Học sinh không những có được các kiến thức sinh học liên quan đến giới tính mà còn được học cả quá trình lịch sử của giới tính, tình dục và tính dục. (Phạm Chinh, 2015) 4 Tại Pháp, các chương trình giáo dục giới tính trong nhà trường được triển khai từ năm 1973. Có khoảng 30 - 40 giờ học giới tính dành cho học sinh lớp 8 và lớp 9, cuối khóa học học sinh được làm quen và học cách sử dụng bao cao su. Tháng 2/2000, Chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính lên đài truyền hình và sóng phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông về các phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả.
(theo VTC, 2019) Tại Đức, năm 1959 nhiều tài liệu về giáo dục giới tính đã được nghiên cứu công phu. Vấn đề giáo dục giới tính được tiến hành rộng rãi, đặc biệt từ những năm 70 chương trình giáo dục giới tính trong trường học bao gồm các vấn đề như dậy thì, sự thay đổi tâm sinh lý của tuổi mới lớn, hoạt động tình dục, phòng tránh thai và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, thế nào là lạm dụng tình dục,. Bên cạnh đó họ còn sử dụng hệ thống truyền thông để giáo dục chuyên đăng tải các chủ đề thắc mắc của tuổi mới lớn về giới tính, tình yêu, tình bạn. (Phạm Chinh, 2015) Tại Anh, các chương trình về giáo dục giới tính là bắt buộc đối với học sinh.