PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Rời xa tuổi thiếu nhi vô tư để bước vào tuổi vị thành niên, đó là lúc cơ thể bắt đầu trải qua một giai đoạn phát triển rất nhanh về thể chất, tâm sinh lý và tinh thần. Với sự bùng nổ thông tin, giao thoa văn hóa đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ và hành vi của lứa tuổi vị thành niên. Một trong những vấn đề nổi cộm ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đó là các vấn đề về Sức khỏe sinh sản.
Do thiếu hiểu biết về kiến thức, lại thiếu sự quan tâm giáo dục từ gia đình, nhà trường nên hiện nay lứa tuổi vị thành niên có hành vi QHTD bừa bãi thiếu trách nhiệm, hệ lụy là tình trạng mang thai sớm, tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi Vị thành niên ngày một tăng. Hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em gái từ 15- 19 tuổi sinh con, chiếm 10% tổng sổ trẻ em sinh ra trên toàn thế giới (Đỗ Ngọc Tấn, 1998, Chương trình giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho học sinh THPT -Trung tâm giáo dục SKSS/KHHG, Hà Nội). Việt Nam hiện nay cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến những nguy cơ về SKSS vị thành niên. Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam tại Hội thảo “Sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên” 14/12/2004 do Bệnh viện Phụ sản Trung ương phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tổ chức: Việt Nam hiện là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và xếp thứ 5 trên thế giới, mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15 – 19.
Ví dụ điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ phá thai cao nhất cả nước, trong đó đáng báo động là thực trạng nạo phá thai ở nữ vị thành niên.067 ca phá thai trong đó 3.876 ca ở nữ vị thành niên, chiếm tỷ lệ 3,2%.956 ca phá thai trong đó 3.623 ca ở nữ vị thành niên, chiếm tỷ lệ 3,0%. So với các năm trước thì năm 2011 và 2012, tỷ lệ nữ vị thành niên nạo phá thai tăng lên rõ rệt. Không chỉ có vậy, tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở vị thành niên, thanh niên cũng có xu hướng gia tăng nhanh,có tới 55,8% số người nhiễm HIV ở Việt Nam trong độ tuổi từ 16-29 tuổi. Tại các trường THPT, có tới 1/3 các bạn hoc sinh chưa được tiếp cận với các biện pháp tránh thai an toàn, đặc 1 z biệt là chưa biết cách xử lý khi mang thai ngoài ý muốn, có đến 90,3% các em biết nguy cơ mang thai ngoài ý muốn nhưng có tới 80% các em không dùng biện pháp tránh thai.
Nguy hiểm nhất là các em có tư tưởng: “không muốn có con thì bỏ”(Báo Tiền Phong, ngày 13 tháng 09 năm 2013, Giới trẻ Việt cởi mở với tình dục trước hôn nhân). Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra các chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/11/2000) với hai mục tiêu cụ thể của chiến lược hướng vào VTN&TN: “Cải thiện tình hình sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của vị thành niên, thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với lứa tuổi” và “Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây dựng quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm nâng cao SKSS và chất lượng cuộc sống”(Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương, ngày 17 tháng 11 năm 2011, Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010) Nhưng thực tế cho thấy, việc đưa nội dungchăm sóc SKSS cho trẻ VTN thông qua các môn học ở trường, việc giáo dục giới tính cho các con ở nhà và ngoài xã hội còn nhiều hạn chế và chưa thực sự hiệu quả. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống, khả năng học tập, tương lai của chính các em mà còn tác động lớn đến chất lượng dân số của toàn xã hội. Vậy thực trạng nhận thức của học sinh THPT về kiến thức SKSS hiện nay như thế nào, liệu họ có nhu cầu và đã sẵn sàng để tiếp nhận các kiến thức này hay không bởi chính nhu cầu bức thiết của họ sẽ làm tăng hiệu quả của giáo dục giới tính.
Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Nhu cầu giáo dục kiến thức sức khoẻ sinh sản của học sinh THPT, nghiên cứu trường hợp trường THPT Hoằng Hoá II - Hoằng Kim - Hoằng Hoá - Thanh Hoá” để nghiên cứu. Nghiên cứu này không kỳ vọng vào kết quả khảo sát trên diện rộng mà hướng tới tìm hiểu thực trạng nhu cầu giáo dục kiến thức SKSS của một trường THPT khu vực nông thôn miền núi. Đồng thời với tư cách là một nhân viên CTXH, người nghiên cứu mong muốn đưa ra những hoạt động can thiệp cụ 2 z thểnhằm mục đích hỗ trợ cung cấp kiến thức phòng tránh thai cho nhóm học sinh THPT Hoằng Hoá II- Thanh Hóa. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Vài nét về tình hình nghiên cứu SKSS vị thành niên trên thế giới [1] Ở trên thế giới, nghiên cứu về SKSS vị thành niên xuất hiện rất sớm nhưng được gọi với những cái tên khác nhau chẳng hạn sức khỏe vị thành niên hay giới tính tình dục thanh thiếu niên.
Từ sau hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo 4/1994 sau khi định nghĩa chính thức về SKSS được thống nhất đến mọi Quốc gia trên thế giới và là mối quan tâm của toàn xã hội. Vấn đề SKSS được đẩy lên một trình độ mới. Tại Châu Phi:Giáo dục SKSS ở châu lục này tập trung chủ yếu vào đẩy lùi dịch HIV/AIDS và cố gắng thiết lập các chương trình về AIDS phối hợp với tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) và các tổ chức phi chính phủ (NGO). Những chương trình này dạy cho họ và con em của họ các cách ABC, với A- phòng chống AIDS, B- chung thủy và C- dùng bao cao su.
Ở Ai Cập, trẻ từ 12 – 14 tuổi được giáo viên giảng dạy những kiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai, các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục. Tại các Quốc Gia Châu Á: Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc là những nước đã thực hiện những khung chính sách hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các trường học. Tại Malaysia, Philippines và Thái Lan đánh giá các nhu cầu sức khoẻ sinh sản thanh niên. Ấn Độ thì có các chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9-16 tuổi.
Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh. Tại Trung Quốc và Sri Lanka, giáo dục giới tính truyền thông gồm đọc về đoạn sinh sản trong các cuốn sách giáo khoa sinh học. Đối với các Quốc Gia Châu Âu: Tại Đan Mạch, cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã có chương trình truyền hình được Chính phủ tài trợ đã trở thành kênh thông tin quen thuộc về giới tính và sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên. Đan Mạch là nước có tỷ lệ trẻ vị thành niên mang thai thấp nhất thế giới và là hình mẫu “lý tưởng” cho các nước khác học tập cách thức giáo dục giới tính 3 z trong trường học.
Tại Pháp tháng 2/2000, chính phủ Pháp đưa giới tính lên truyền hình, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh THPT về các biện pháp tránh thai an toàn, hiệu quả. Tại các quốc Gia Châu Mỹ: Các trường học đều đưa giáo dục giới tính vào chương trình học của học sinh lớp 7-12, có nơi bắt đầu từ lớp 5 lớp 6. Học sinh tiếp cận kiến thức giới tính theo 2 kiểu: toàn diện kiến thức chung 58% hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh một vấn đề chiếm 34%. Tuy nhiên, Mỹ lại là một trong những nước có tỷ lệ sinh ở trẻ vị thành niên cao nhất thế giới, tỷ lệ nhiễm bệnh qua đường tình dục ở thanh thiếu niên cũng là cao nhất.
Điều này cho thấy người ta nên chú trọng vào phương pháp giáo dục hơn là xác định giáo dục ở cấp học nào. Một số nghiên cứu về SKSS vị thành niên tại Việt Nam Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, giáo dục giới tính đã bắt đầu được quan tâm rộng rãi. Lứa tuổi THPT đang ở giai đoạn cuối thời kỳ dậy thì và đầu giai đoạn thanh niên nên các em có sự thay đổi mạnh mẽ về cả sinh lý và tâm lý. Bản thân các em chịu sự tác động của gia đình, thầy cô, bạn bè… Nếu các em được giáo dục định hướng đúng sẽ giúp các em phát triển đúng hướng và vượt qua những khó khăn trở ngại của cuộc sống.
Việt Nam sau năm 1954, cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều nghành khoa học, xã hội học cũng từng bước hình thành, phát triển với nhiều nghiên cứu chuyên biệt. Song do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt nên các nghiên cứu này còn rất nhiều hạn chế, phải sau ngày đất nước thống nhất (1975) giới khoa học nước ta mới có điều kiện đi sâu nghiên cứu- một trong những nội dung rất được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đó là vấn đề SKSS- GDGT cho trẻ VTNTN. Trải qua nhiều năm, sức khỏe sinh sản đã có những sự quan tâm nhất định với những chuyên khảo và nhiều công trình nghiên cứu khác nhau: Đáng chú ý trong số này là: Cuốn sách “Giáo dục giới tính vì sự phát triển của vị thành niên”(2002) của bác sĩ Đào Xuân Dũng, đã cho thấy sự cần thiết phải GDGT cho trẻ ở độ tuổi vị thành niên. Cuốn sách “Sức khoẻ vị thành niên” (2005) do Trung tâm Bảo vệ bà mẹ trẻ em kế hoạch hoá gia đình hợp tác với Thụy Điển biên soạn đã đem lại những thông tin quý giá giúp định hướng hành 4 z động GDGT và chăm sóc SKSS vị thành niên.
Cuốn sách“Một số nghiên cứu SKSS ở Việt Nam sau Cairo” - Trung tâm nghiên cứu Giới; gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED),TS Hoàng Bá Thịnh, NXB Chính trị Quốc gia.