Chiến lược hiệu quả phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

191
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm

1.2. Dịch tễ học đuối nước

1.3. Các giải pháp phòng chống đuối nước

1.4. Mô hình dạy bơi an toàn cho trẻ. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu

2.5. Các bước tiến hành nghiên cứu (PL 4. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Các biến số nghiên cứu (phụ lục 7)

2.7. Khái niệm và thang đánh giá

2.8. Phương pháp phân tích số liệu

2.9. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ về vấn đề phòng chống đuối nước trẻ em

Phụ lục 2: Hướng dẫn Phỏng vấn sâu

Phụ lục 3: Các chỉ số đánh giá trong nghiên cứu

Phụ lục 4: Triển khai can thiệp dạy bơi an toàn cho học sinh tiểu học

Phụ lục 5: Tài liệu truyền thông về phòng chống đuối nước

Phụ lục 6: Thang đánh giá kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ và kỹ năng bơi của học sinh

Phụ lục 7: Các biến số trong nghiên cứu

Phụ lục 8: Một số hình ảnh triển khai nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về vấn đề đuối nước ở học sinh tiểu học tại Cao Lãnh Đồng Tháp

Đuối nước là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có khoảng 236.000 người tử vong do đuối nước, trong đó trẻ em từ 5-14 tuổi là nhóm có nguy cơ cao nhất. Tại Cao Lãnh, Đồng Tháp, tình trạng đuối nước ở học sinh tiểu học đã trở thành vấn đề nghiêm trọng do hệ thống sông ngòi dày đặc và thiếu sự giám sát của người lớn. Nghiên cứu chỉ ra rằng 97% các trường hợp đuối nước xảy ra ở khu vực không có biển cảnh báo hoặc rào chắn. Chiến lược can thiệp phòng chống đuối nước cần tập trung vào việc tăng cường nhận thức và kỹ năng bơi lội cho trẻ.

1.1. Thực trạng đuối nước tại Cao Lãnh Đồng Tháp

Tại Cao Lãnh, Đồng Tháp, đuối nước là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em, đặc biệt trong mùa mưa. Theo báo cáo, khoảng 50-60 trường hợp đuối nước xảy ra hàng năm, chủ yếu do thiếu sự giám sát và trẻ không biết bơi. Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Hưng chỉ ra rằng 80% trường hợp đuối nước xảy ra do sự bất cẩn của người chăm sóc. Chương trình giáo dục an toànphát triển kỹ năng sống như dạy bơi đã được triển khai nhưng chưa đạt hiệu quả cao. Cần có các biện pháp can thiệp toàn diện để giảm thiểu tình trạng này.

1.2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân chính dẫn đến đuối nước ở học sinh tiểu học tại Cao Lãnh, Đồng Tháp bao gồm thiếu sự giám sát của người lớn, trẻ không biết bơi và môi trường sống gần sông nước. Nghiên cứu của Đặng Văn Chính chỉ ra rằng 42% trẻ em từ 5-10 tuổi biết bơi, nhưng tỷ lệ này vẫn còn thấp so với nhu cầu thực tế. Kỹ năng bơi lộigiáo dục an toàn là yếu tố then chốt để phòng chống đuối nước. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm thiếu rào chắn tại các khu vực nguy hiểm và nhận thức hạn chế của cộng đồng.

II. Chiến lược can thiệp phòng chống đuối nước

Chiến lược can thiệp phòng chống đuối nước tại Cao Lãnh, Đồng Tháp tập trung vào việc xây dựng các chương trình giáo dục và thực hành kỹ năng bơi lội cho học sinh tiểu học. Nghiên cứu đã triển khai mô hình dạy bơi an toàn tại 5 trường tiểu học, kết hợp với truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng. Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh biết bơi tăng đáng kể sau can thiệp. Phòng chống đuối nước cần được thực hiện thông qua các biện pháp đồng bộ, bao gồm giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất và tăng cường giám sát.

2.1. Chương trình dạy bơi an toàn

Chương trình dạy bơi an toàn được triển khai tại Cao Lãnh, Đồng Tháp từ năm 2015 đến 2019 đã mang lại hiệu quả tích cực. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh biết bơi tăng từ 42% lên 78% sau can thiệp. Kỹ năng bơi lội không chỉ giúp trẻ tự bảo vệ mình mà còn góp phần giảm thiểu nguy cơ đuối nước. Chương trình này cũng nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế như UNICEF và WHO, khẳng định tính khả thi và hiệu quả của mô hình.

2.2. Tăng cường nhận thức cộng đồng

Tăng cường nhận thức cộng đồng là yếu tố quan trọng trong chiến lược can thiệp phòng chống đuối nước. Các hoạt động truyền thông đã được triển khai rộng rãi tại Cao Lãnh, Đồng Tháp, bao gồm hội thảo, tài liệu giáo dục và các chiến dịch truyền thông đại chúng. Kết quả cho thấy nhận thức của người dân về nguy cơ đuối nước và cách phòng tránh đã được cải thiện đáng kể. Giáo dục an toànphát triển kỹ năng sống cần được tiếp tục đẩy mạnh để đảm bảo tính bền vững của chương trình.

III. Đánh giá hiệu quả và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của chiến lược can thiệp phòng chống đuối nước tại Cao Lãnh, Đồng Tháp thông qua việc đo lường tỷ lệ học sinh biết bơi và nhận thức của cộng đồng. Kết quả cho thấy chương trình đã giảm đáng kể số ca đuối nước và nâng cao kỹ năng sống cho trẻ. Phòng chống đuối nước cần được nhân rộng tại các địa phương khác có điều kiện tương tự. Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp cải thiện như tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo giáo viên dạy bơi.

3.1. Kết quả và bài học kinh nghiệm

Kết quả nghiên cứu cho thấy chiến lược can thiệp phòng chống đuối nước đã giảm tỷ lệ đuối nước ở học sinh tiểu học tại Cao Lãnh, Đồng Tháp từ 50-60 ca/năm xuống còn 20-30 ca/năm. Bài học kinh nghiệm quan trọng là cần kết hợp giữa giáo dục, thực hành và sự tham gia của cộng đồng. Chương trình giáo dục an toànkỹ năng bơi lội cần được duy trì và mở rộng để đảm bảo tính bền vững.

3.2. Ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị

Nghiên cứu đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả của chiến lược can thiệp phòng chống đuối nước tại Cao Lãnh, Đồng Tháp. Các khuyến nghị bao gồm tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo giáo viên dạy bơi và mở rộng chương trình đến các địa phương khác. Phòng chống đuối nước cần được coi là một phần quan trọng trong phát triển kỹ năng sống và giáo dục an toàn cho trẻ em.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện cao lãnh tỉnh đồng tháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Trẻ em: Theo Luật trẻ em của Quốc hội (Luật số: 102/2016/QH13) trẻ em là người dưới 16 tuổi (19),(20). Người chăm sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, bao gồm người giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc thay thế hoặc người được giao trách nhiệm cùng với cha, mẹ của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em (20). Đuối nước là một sự kiện xảy ra khi đường hô hấp của nạn nhân bị ngập trong một môi trường chất lỏng, dẫn tới khó thở hoặc nghẹt thở, sự kiện này có thể dẫn tới tử vong hoặc không tử vong (21).

Tai nạn thương tích thường được chia thành hai nhóm là tai nạn thương tích không có chủ định và tai nạn thương tích có chủ định. Các nguyên nhân gây ra tai nạn thương tích bao gồm: tai nạn giao thông, đuối nước, điện giật, ngã, bỏng, động vật cắn, vật sắc nhọn, vật tù/vật rơi, ngộ độc, ngạt thở, tự tử, đánh nhau/hành hung, bom mìn và các vật nổ. Dịch tễ học đuối nước 1. Đuối nước trên Thế giới Năm 2019, báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới ước tính hàng năm có khoảng 236.000 người tử vong do đuối nước, chiếm gần 8% tổng số các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích trên toàn cầu, đuối nước là nguyên nhân cao thứ 3 trong số các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích gây ra và có trên 90% tử vong do đuối nước xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (1).

Riêng ở khu vực Tây Thái Bình Dương, trẻ em ở độ tuổi từ 5 – 14 tuổi tử vong do đuối nước đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích gây ra (21),(23),(24). 5 Biểu đồ 1: Tỷ suất đuối nước trên 100.000 dân/năm ở các khu vực (22). Biểu đồ 1 cho thấy, tỷ suất đuối nước ở khu vực Châu Phi chiếm cao nhất (7,9/100.000 dân/năm), kế đến là Đông Nam Á (7,6/100.000 dân/năm), thấp nhất là Châu Mỹ (3/100. Biểu đồ 2: Xếp hạng 10 nguyên nhân gây tử vong, trong đó đuối nước là nguyên nhân hàng đầu tại các khu vực của WHO (22).

Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong so với các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích gây ra, số liệu báo cáo của WHO (biểu đồ 2) cho 6 thấy trong các nhóm tuổi tử vong do đuối nước ở các khu vực trên Thế giới thì nhóm tuổi tử vong do đuối nước chiếm cao nhất là ở hai nhóm tuổi từ 5 – 9 tuổi và nhóm từ 10 – 14 tuổi. Cụ thể ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, tử vong do đuối nước đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây tử vong là ở hai nhóm tuổi này (5 – 9 tuổi và 10 – 14 tuổi). Tiếp theo là khu vực Đông Nam Á, thì nhóm tuổi từ 10 – 14 tuổi bị tử vong do đuối nước đứng hàng thứ hai và nhóm tuổi từ 5 – 9 tuổi đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích (22). Nghiên cứu của Wu Y và cộng sự năm 2017 phân tích cơ sở dữ liệu của WHO về tử vong trẻ em và vị thành niên do đuối nước từ năm 2000 đến 2013 tại 21 quốc gia.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đuối nước ở các nguồn nước tự nhiên là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em và vị thành niên ở Ba Lan (56-92%), Cu Ba (53-81%), Venezuela (43-56%) và Nhật Bản (39-60%). Trong khi đuối nước ở bể bơi và bồn tắm thì phổ biến ở Mỹ (26-37%) và Nhật Bản (28-39%) (25). Nghiên cứu của Adnan A Hyder (2007), giám sát thương tích không chủ ý ở trẻ em dưới 11 tuổi tại 4 thành phố ở các nước đang phát triển cho thấy, trong số 20 trẻ em bị đuối nước thì có gần 50% là trẻ em trai và trẻ trên 5 tuổi chiếm 55%. Có 85% trẻ em đang chơi bên trong hoặc ngoài nhà tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Gần một nửa cha mẹ báo cáo có giám sát con của mình trong khi tắm. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ tử vong do đuối nước cao hơn bất kỳ các loại tai nạn thương tích khác (26). Tại Úc đuối nước là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 cho nhóm trẻ từ 1 – 14 tuổi. Tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ dưới 5 tuổi cao gấp 3 lần người lớn (4,6/100.

Tử vong do đuối nước ở trẻ dưới 4 tuổi chiếm đến 20%, trong khi đó nhóm này chỉ chiếm 7% dân số. Có 17% tử vong xảy ra tại các bể bơi và trẻ dưới 4 tuổi chiếm đa số (64%) (27). Tương tự, báo cáo gánh nặng bệnh tật do TNTT của Brazil cũng chỉ ra tử vong do đuối nước chiếm đến 47% (28). Tại Bangladesh, nghiên cứu của Rahman.

A và cộng sự (2009), điều tra 171.366 hộ gia đình bằng cách sử dụng mẫu ngẫu nhiên cụm đa tầng, với 352.000 trẻ em từ 0 – 17 tuổi được chọn. Kết quả cho thấy, trong số 10 nguyên nhân gây tử vong trẻ em từ 0 – 17 tuổi, đuối nước là nguyên nhân đứng hàng thứ 5 với tỷ suất 7 27,3/100. Nếu loại trừ trẻ sơ sinh thì đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em từ 1 – 17 tuổi. Nơi xảy ra đuối nước thường gặp là các nguồn nước tự nhiên, ao hồ, sông, rạch tỷ lệ trên 80%.

Đuối nước xảy ra cách nhà trong vòng 20 mét và thời điểm xảy ra từ lúc 9 giờ sáng đến 17 giờ chiều (tỷ lệ khoảng 80%). Đuối nước hầu hết gặp ở các trẻ không biết bơi. Trẻ biết bơi có tỷ lệ thuận với nhóm tuổi, cụ thể khả năng bơi lội của trẻ ở nhóm 4 – 9 tuổi là 3% và ở nhóm 10 – 14 tuổi tăng lên là 33% (29), nghiên cứu này cho thấy rằng đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong trẻ em từ 1 – 17 tuổi, nơi xảy ra đuối nước thường gặp là nguồn nước tự nhiên, hầu hết các trường hợp đuối nước gặp ở trẻ không biết bơi. Theo tác giả Rahman Aminur và cộng sự (2008), cho thấy rằng trẻ em 5 – 10 tuổi, nguy cơ bị đuối nước ở trẻ em nam cao hơn trẻ em nữ.

Nơi được đề cập nhiều nhất dẫn đến đuối nước là ao, hồ, kênh rạch, các trường hợp bị đuối nước thường xảy ra vào buổi trưa. Biện pháp phòng chống đuối nước trẻ em những người tham gia nghiên cứu đề nghị rằng, trẻ em cần được giám sát chặt chẽ và liên tục. Lấp đầy các ao, hồ không sử dụng hoặc phải có rào che chắn. Nghiên cứu cho thấy thiếu sự giám sát ở trẻ em dưới 5 tuổi và thiếu kỹ năng bơi lội của trẻ là yếu tố quyết định đuối nước ở trẻ em tại Bangladesh (30).

Nghiên cứu của Rahman A và cộng sự năm 2017 về Dịch tễ học đuối nước ở Bangladesh. Nghiên cứu điều tra hộ gia đình được thực hiện tại vùng nông thôn Bangladesh từ tháng 6 đến 11 năm 2013, bao gồm 1,17 triệu người. Thông tin về đuối nước được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi. Kết quả cho thấy tỷ suất đuối nước là 15,8/100.

Nam có tỷ lệ đuối nước cao hơn nữ và đuối nước có liên quan đến trình độ học vấn của cha mẹ, người có trình độ học vấn thấp có tỷ lệ trẻ bị đuối nước cao gấp 3 lần so với người có trình độ trung học phổ thông. Đuối nước là một vấn đề y tế nghiêm trọng tại Bangladesh (31). Nghiên cứu của tác giả Mathur A và cộng sự năm 2018, về chấn thương không chủ ý ở trẻ em vùng nông thôn và thành thị tại Ujjain, Ấn Độ: cũng cho thấy đuối nước cũng là một nguyên nhân gây tử vong ở trẻ với khoảng 2% trong tổng số các nguyên nhân gây thương tích tại gia đình (32). 8 Thống kê tại Trung Quốc cho thấy có đến 80% trẻ em từ 13-17 tuổi không biết bơi, một trong những nguyên nhân gây ra đuối nước ở trẻ em là do không biết bơi, vấn đề này càng nghiêm trọng hơn ở vùng nông thôn, nơi có rất nhiều ao, hồ và là nơi mà tỷ lệ tử vong do đuối nước chiếm tới 60% trong tổng số tử vong do tai nạn thương tích tại Trung Quốc (33).

Nghiên cứu của Wenjun Ma và cộng sự (2010), đuối nước là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe. Số liệu thu thập từ cuộc điều tra tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.000 dân/năm bị tử vong là do đuối nước. Tử vong do đuối nước ở nam cao gấp 1,5 lần so với ở nữ. Vùng nông thôn nguy cơ đuối nước xảy ra cao gấp 2 lần so với vùng thành thị.

Tỷ suất tử vong do đuối nước cao nhất ở nhóm trẻ từ 5-9 tuổi so với các nhóm tuổi khác. Đuối nước xảy ra phổ biến nhất là vùng nước tự nhiên và thời điểm vào mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) là đỉnh cao của đuối nước. Nghiên cứu này cho thấy yếu tố nguy cơ gây tử vong do đuối nước ở Trung Quốc là trẻ tiếp xúc với các nguồn nước mở, khả năng bơi kém và thiếu sự giám sát của người chăm sóc trẻ. Nghiên cứu kiến nghị để giảm tử vong do đuối nước là cần phải dạy trẻ bơi và nâng cao việc giám sát trẻ thường xuyên (34).

Tại Singapore, nghiên cứu của Tyebally.Y (2010), về dịch tễ học đuối nước ở trẻ từ 0-16 tuổi đến khoa cấp cứu của mạng lưới Y tế Singapore. Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn, rà soát hồ sơ lưu trữ của bệnh nhân và các báo cáo. Kết quả cho thấy tử vong do đuối nước ở nam cao gấp 3 lần so với nữ. Tuổi bị đuối nước cao nhất là 3-4 tuổi và thấp nhất tuổi trên 13 tuổi.

Sự cố xảy ra ở hồ bơi hơn 50%. Ngoài ra, trẻ dưới 5 tuổi nguy cơ bị đuối nước cũng gặp ở bồn tắm, bể, ao. Tại nơi xảy ra đuối nước không có biện pháp an toàn như: Người cứu hộ, vật nổi, áo phao, biển cảnh báo hoặc hàng rào (35). Ở các nước Đông Nam Á, điều tra cộng đồng (2007), tại năm quốc gia: Bangladesh, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Việt Nam cho thấy rằng nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 18 tuổi là đuối nước.

Ở năm quốc gia này có tỷ lệ tử vong của đuối nước là 30/100. Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc cho thấy tỷ suất tử vong do đuối nước là 5,6/100.000 dân/năm, kết quả này chiếm 11% các tổn thương gây tử vong ở Trung Quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Chiến lược can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại Cao Lãnh, Đồng Tháp là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc giảm thiểu nguy cơ đuối nước ở trẻ em thông qua các biện pháp giáo dục và can thiệp cụ thể. Tài liệu này cung cấp chi tiết về thực trạng đuối nước tại địa phương, các yếu tố nguy cơ, và đề xuất các giải pháp thiết thực như tăng cường giáo dục kỹ năng bơi lội, nâng cao nhận thức cộng đồng, và xây dựng môi trường an toàn. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục, phụ huynh, và tổ chức xã hội quan tâm đến sức khỏe và an toàn của trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan đến giáo dục sức khỏe và can thiệp cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học vận dụng phương pháp tình huống trong dạy học chủ đề con người và sức khỏe môn tự nhiên và xã hội lớp 3, Luận văn quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện bắc quang tỉnh hà giang trong bối cảnh hiện nay, và Luận văn thạc sĩ nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay nghiên cứu trường hợp trường ptth yên hòa quận cầu giấy. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp giáo dục sức khỏe hiệu quả và cách tiếp cận toàn diện trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.