Chương 1. Tổng quan tài liệu - Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo 5.
Những đóng góp mới của đề tài Là đề tài đầu tiên nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng và năng lực trí tuệ của học sinh ở trường THPT Lê Hoàn, Đức Cơ, Gia Lai. Kết quả nghiên cứu đánh giá được tình trạng phát triển thể chất và năng lực trí tuệ của học sinh hiện tại của trường. Thông qua mối tương quan giữa các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ nhằm đề ra các giải pháp nhằm nâng cao thể chất và đặc biệt là chất lượng giáo dục của con em huyện nhà. Các số liệu nghiên cứu của đề tài đóng góp một phần quan trọng trong các nghiên cứu các chỉ số sinh học và trí tuệ ở các trường THCS, THPT sau này và còn là tài liệu tham khảo trong giảng dạy.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA CON NGƯỜI Hình thái và thể lực là các đặc điểm phản ánh tổng hợp của cơ thể, có liên quan chặt chẽ với sức lao động và thẩm mỹ của con người. Sự tăng trưởng về hình thái và thể lực là kết quả của sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể sống [3], [6]. Hình thái và thể lực của con người thể hiện qua các thông số cơ bản như chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực và chỉ số BMI, …Trong đó chiều cao đứng là một chỉ số phát triển thể lực quan trọng và được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu nhân trắc học.
Chiều cao là một trong các chỉ số quan trọng trong việc đánh giá thể lực con người. Chiều cao phản ánh sự phát triển chiều dài của xương, biểu hiện tầm vóc của con người và nó mang tính chất đặc trưng cho chủng tộc, giới tính. Sự phát triển chiều cao của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dinh dưỡng, môi trường sống, [11], [15]. Cân nặng cũng là một trong các chỉ số để đánh giá thể lực của con người.
Cân nặng phản ánh được tình trạng dinh dưỡng, biểu thị các mức độ và tỉ lệ giữa các quá trình hấp thu và tiêu hao năng lượng. Sự phát triển cân nặng của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dinh dưỡng, môi trường sống [11], [15]. BMI (Body Mass Index) thể hiện mối tương quan giữa chiều cao và cân nặng của cơ thể. Chỉ số này cho phép đánh giá mức độ dinh dưỡng và khả năng hấp thu của cơ thể, qua đó biết được mức độ gầy hay béo của một người [25], [26], [24].
Nghiên cứu các chỉ số về hình thái - thể lực ở thế giới Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực [56]. Sau này, các nhà giải phẫu học kiêm họa sĩ thời phục hưng 5 (LeonardeVinci, Mikenlangielo, Raphael) đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa vào tác phẩm hội họa của mình. Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski [37]. Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua 2 tác phẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê”.
Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn được sử dụng. Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước. Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P. Baskirov – “Nhân trắc học”.
Evan Dervael - “Nhân trắc học”, công trình của Bunak, A. Song song với sự phát triển bộ môn di truyền, Sinh lý học, Toán học…việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn. Vấn đề này được thể hiện qua các công trình của X. Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tommer, M.
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc trong cùng một thời điểm [44]. Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy sự tăng trưởng hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754. Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross – sectional study) được dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện trên nhiều đối tượng cùng một lúc [37]. Nghiên cứu dọc của Philibert Guéneau de Montbeilard thực hiện trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777.
Đây là phương pháp rất tốt đã được 6 ứng dụng cho đến ngày nay. Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới. Từ thế kỷ XX, việc nghiên cứu thể lực đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới như Liên Xô, Pháp, Đức, Trung Quốc, Mỹ…Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, tốc độ phát triển thể lực diễn ra mạnh nhất vào tuổi dậy thì do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết trong thời kỳ chín sinh dục. Tốc độ tăng trưởng và thời gian tăng trưởng phụ thuộc vào yếu tố xã hội và môi trường sống [8].
Nghiên cứu các chỉ số về hình thái - thể lực ở Việt Nam Hình thái – thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em. Vào những năm 30 của thế kỷ XX tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và học sinh của người Đông Dương” của P.Huard và Đỗ Xuân Hợp được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về hình thái người Việt Nam. Tuy nhiên số lượng chưa nhiều nhưng tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời [37].
Từ năm 1954 trở về sau, các công trình điều tra về con người ở Việt Nam được thực hiện nhiều và tương đối về mọi mặt, trong đó phải kể đến các tác giả điển hình như Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền, Nguyễn Thị Lê, Chu Văn Tường, Trần Tích Cảnh… Các công trình này tập trung nghiên cứu các đặc điểm và sự phát triển qua các giai đoạn của người Việt Nam [22]. Đến năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do Nguyễn Tấn Gi Trọng [44] chủ biên được công bố, đây là một công trình khá hoàn chỉnh các thông số về sinh học, sinh lý, hóa sinh của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi. 7 Năm 1991, Đào Huy Khuê [16] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể của 1478 học sinh từ 6 - 17 tuổi ở thị xã Hà Đông cho rằng hầu hết các thông số về hình thái tăng dần theo lứa tuổi nhưng nhịp tim không đều, tốc độ phát triển tối đa các thông số của nam thường ở lứa tuổi 14 - 16, nữ: 11 - 15. Từ 6 - 9 tuổi kích thước của nam và nữ không có sự khác biệt rõ rệt, từ 10 - 15 tuổi kích thước nữ thường vượt trội hơn nam và từ 16 - 17 tuổi kích thước của nam lại vượt trội hơn nữ.
Năm 1992, Thẩm Thị Hoàng Điệp [8] đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi với 31 chỉ tiêu sinh học. Tác giả đã rút ra được nhiều kết luận như chiều cao của học sinh phát triển mạnh nhất lúc 11 - 12 tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi ở nam, còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 12 - 13 tuổi ở nữ và 14 - 15 tuổi ở nam. Năm 1993, Đoàn Yên và các cs [52] đã nghiên cứu trên trẻ em người Kinh và người Mường ở tỉnh Hà Tây nhận thấy ở độ tuổi 12 - 13 các kích thước cơ thể như chiều cao, khối lượng, chỉ số pignet… của nữ lớn hơn nam. Năm 2001, Đào Mai Luyến [27] khi nghiên cứu chỉ số sinh học của người Êđê và người Kinh định cư tại ĐăkLăk đã cho rằng thể lực của người Êđê tốt hơn người Kinh định cư.
Tác giả cho rằng là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống có ảnh hưởng nhất định đến sự tăng trưởng. Năm 2002, Trần Thị Loan [26] khi nghiên cứu trên đối tượng học sinh từ 6 - 7 tuổi tại quận Cầu Giấy – Hà Nội đã nhận định về chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh thuộc địa bàn nghiên cứu tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều. So sánh với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trước đây, thì các chỉ số hình thái của học sinh quận Cầu Giấy lớn hơn, chứng tỏ điều kiện sống đã ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái của học sinh. Năm 2009, Nguyễn Ngọc Châu [4], khi nghiên cứu trên đối tượng học sinh ở trường THPT Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh đã kết luận 8 các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình tăng dần theo lớp tuổi với mức tăng hàng năm không giống nhau.
Tốc độ gia tăng chiều cao trung bình của học sinh nam là 0,83 cm/năm cao hơn so với của học sinh nữ là 0,42 cm/năm. Tốc độ gia tăng cân nặng của học sinh nam là 1,30 kg/năm và học sinh nữ là 0,6 kg/năm, còn vòng ngực trung bình của nam tăng 0,86 cm/năm và của học sinh nữ tăng 0,81 cm/năm. Năm 2012, Đỗ Thị Thành [37], khi nghiên cứu trên 593 học sinh người Kinh và người Mường tại trường THCS Kỳ Phú xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã khẳng định rằng các chỉ số trung bình về hình thái như chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình đều tăng dần theo lứa tuổi với tốc độ tăng trưởng ở học sinh nam thường cao hơn tốc độ tăng trưởng của học sinh nữ. Có sự chênh lệch về các chỉ số hình thái, thể lực giữa học sinh nam và học sinh nữ.
Các chỉ số về các chỉ số hình thái, thể lực của học sinh dân tộc Mường thường thấp hơn dân tộc Kinh ở cùng lứa tuổi.