Chương 1: TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm, thuật ngữ “Công nhân thu gom chất thải đô thị”: là “người thực hiện nhiệm vụ thu gom rác thải đô thị bao gồm quét, thu gom và vận chuyển rác đến nơi tập kết”. “Lượng rác thải thu gom biến động theo thời điểm trong ngày, trong tuần và mùa vụ”. “Môi trường lao động”: là “không gian nơi con người lao động bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên và các yếu tố môi trường phát sinh trong môi trường lao động, có quan hệ mật thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển của con người lao động và quá trình lao động, sản xuất”.
“Điều kiện lao động” (ĐKLĐ): là “tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, dụng cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng trong không gian và thời gian nhất định tạo nên những điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất” .“An toàn lao động”: là “giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động”. “Vệ sinh lao động”: là “giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động”. “Yếu tố tác hại nghề nghiệp”: gồm yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại.“Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động”. “Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động”.
“Tâm lý lao động”: là “nhu cầu của công việc về khía cạnh tâm lý, tinh thần và nghiên cứu cách đánh giá khả năng tinh thần của các cá nhân để có thể tuyển chọn thích hợp về phương diện sức khỏe”. “Sinh lý lao động”: là các biến đổi sinh lý của các cơ quan chức năng của cơ thể trong điều kiện lao động. 5 “Ecgônômi” là “lĩnh vực kiến thức, nghiên cứu tổng hợp hoạt động của con người trong mối liên quan với kỹ thuật máy móc và môi trường nhằm mục đích đảm bảo hiệu quả lao động, sức khỏe an toàn và sự thoải mái”. “Bệnh nghề nghiệp” (BNN) là “bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động (NLĐ)”.
“Chất thải” là “vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Hay nói cách khác, chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các hộ gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn”. “Chất thải rắn” (CTR) là “chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Theo Bộ Tài nguyên và môi trường, “Có nhiều cách phân loại CTR.
Nếu phân chia theo nguồn gốc phát sinh, có thể chia CTR sinh hoạt đô thị, CTR xây dựng, CTR nông thôn, nông nghiệp và làng nghề, CTR công nghiệp, CTR y tế. Mặt khác, nếu phân chia theo tính chất độc hại của CTR thì chia ra làm 2 loại: CTR nguy hại và CTR thông thường”. Các nguồn phát sinh và hình thức thu gom, phân loại chất thải rắn đô thị 1. Các nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị Quá trình phát sinh CTR luôn đi đôi với quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người.
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2011 về chất thải rắn thì các nguồn phát sinh CTR ở đô thị chủ yếu là CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70%, còn lại là các loại CTR khác như CTR công nghiệp, CTR y tế, CTR điện tử…. CTR sinh hoạt phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, các khu tập thể, chất thải đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các cơ sở nghiên cứu, trường học,. CTR công nghiệp phát sinh từ các cơ sở công nghiệp nằm trong đô thị, hoặc từ các khu công nghiệp. CTR y tế phát sinh từ các bệnh viện, các cơ sở khám chữa bệnh, … Trong đó tỷ trọng nguồn phát sinh rác từ các hộ dân chiếm 57,91%, rác đường phố chiếm 14,29%, rác công sở chiếm 2,8%, rác chợ chiếm 13%, rác thương nghiệp chiếm 12%.
6 Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nông, “mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm.; Chất thải từ dịch vụ như rửa đường và hẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật, xe máy hỏng, can sữa, nhựa hỗn hợp. Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2011, “thành phần chủ yếu trong CTR đô thị là chất hữu cơ (rác thực phẩm), chiếm tỷ lệ khá cao từ 60 - 75% trên tổng khối lượng chất thải. Các hình thức thu gom và phân loại chất thải rắn đô thị 1. Trên thế giới Trên thế giới, các nước phát triển đã hoàn thiện và đưa vào hoạt động rất hiệu quả hệ thống phân loại, thu gom rác thải và các chính sách về chi phí đi kèm.
Thu gom rác thải sinh hoạt là nhiệm vụ cần nhiều nhân công và có chi phí cao. Quy trình thu gom thường được thực hiệnbằng xe tải, một công nhân điều khiển xe và 2 - 3 công nhân thu gom rác thải trên các tuyến phố và các hộ gia đình. Tại một số quốc gia, rác được phân loại ngay tại nguồn nhằm tạo điều kiện cho việc tái chế và xử lý rác thải thuận lợi hơn. Tại Nhật Bản, các hộ gia đình đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định (rác hữu cơ, rác vô cơ và rác kim loại) sau đó sẽ được tập hợp tại trạm thu gom, trung chuyển bằng các xe tải chở rác cỡ nhỏ để chuyển sang xe chuyên chở lớn và được vận chuyển đến nơi xử lý.
Tại Mỹ, việc tham gia và tuân thủ phân loại rác thải tại nguồn không cao do đây chỉ là quy ước của một số nhóm dân cư. Xe tải đi qua các con phố để thu gom rác. Mỗi xe thu gom có 1 nhóm công nhân làm nhiệm vụ gom rác từ các thùng đựng rác được cấp sẵn hoặc đặt bên lề đườnghoặc tại các địa điểm quy định. Singapore là đất nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới.
Để có được kết quả như vậy, bên cạnh việc đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý, Singapore đã hoàn thiện xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn. Hai thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt ở Singapore là các hộ dân và các công ty tư nhân. Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát trực tiếp của Sở 7 Khoa học công nghệ và môi trường. Các hộ dân được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác đến khu vực tập kết của khu dân cư hoặc các công ty.
Tại Việt Nam Tại Việt Nam, việc thu gom và phân loại CTRĐT có các hình thức sau: Thu gom tại nhà: Hình thức này chỉ được áp dụng cho loại chất thải sinh hoạt hộ gia đình. Công nhân thu gom rác đi đến từng hộ, dọc các đường phố lớn, khu tập thể và mang những thùng rác, túi rác từ mỗi hộ gia đình ra đổ vào xe thu gom của mình và trả lại thùng cho gia đình. Hệ thống thu gom này mất nhiều thời gian và chi phí lao động cao. Hình thức thu gom này được tóm tắt trong hình sau: CTR từ các hộ Xe thu gom Xe vận Khu xử lý gia đình thủ công chuyển cơ giới CTR tập trung Hình 1.
Sơ đồ thu gom chất thải tại nhà Thu gom theo khối: Xe cơ giới thu gom CTRĐT chạy theo lịch đã được đặt ra từ trước, có thể hàng ngày hoặc vài ba ngày/lần, tuỳ theo khối lượng CTR phát sinh. Các xe thu gom cơ giới dừng tại những điểm quy định và rung chuông. Các hộ gia đình, cơ quan,. ở các khu phố xung quanh đó mang túi rác đến đổ vào xe.
Hình thức thu gom này được tóm tắt trong hình sau: Khu xử lý CTR CTR từ các hộ tập trung Xe thu gom cơ giới gia đình Thùng rác Xe vận chuyển tập trung Hình 1. Sơ đồ thu gom chất thải theo khối Thu gom bên lề đường Các hộ gia đình đặt các túi rác đã buộc kín trước của nhà hoặc cổng trước thời gian quy định. Xe thu gom cơ giới đến thu gom theo lịch đã định, tuỳ theo khối lượng CTR để thu gom tất cả các túi rác trong địa bàn. 8 Tại các con phố chật hẹp, quanh co, ngõ, ngách, xe thu gom cơ giới loại nhỏ khó hoạt động, các hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh sẽ tập kết các túi rác ra một địa điểm đã được quy định trong khoảng thời gian nhất dịnh.
Tại điểm này, có một xe cơ giới chờ sẵn để thu gom. Đây này còn gọi là điểm tập kết rác lưu động. Điều kiện lao động của công nhân thu gom chất thải rắn đô thị 1. Các yếu tố có hại trong môi trường lao động Do tính chất của công việc, công nhân TGCTRĐT phải làm việc ngoài trời nên chịu ảnh hưởng trực tiếp khí hậu tự nhiên.
Theo số liệu khí tượng thì ở miền Bắc Việt Nam, hàng năm trung bình có khoảng 60-70 ngày không khí lạnh dưới 20°C chiếm khoảng 16%-18% thời gian trong năm, vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 1-5°C, khoảng 65-75 ngày không khí nóng từ 32°C -37°C và trên 37°C chiếm khoảng 17-19% thời gian trong năm (vượt TCCP từ 2°C -7°C)”. Như vậy, hàng năm công nhân TGCTRĐT ở Hà Nội phải làm việc trong điều kiện nhiệt độ vượt TCCP khoảng 33%-37% thời gian trong năm, chưa kể đến những đợt Gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống 5°C -10°C hay mưa bão, công nhân vẫn phải làm việc đến 1-2 giờ sáng hôm sau.