Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Kiến thức: Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống. Chúng ta có thể thu được kiến thức từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng. Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp con người có thái độ cũng như suy nghĩ và tình cảm đúng đắn, từ đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc[5].
Thái độ: Thái độ được hiểu một cách đơn giản là cái nhìn, quan điểm tích cực, tiêu cực hay trung lập về một cá thể (có thể là một người, một hành vi, một sự kiện, hay một thuộc tính nào đó). Thái độ thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm tin, và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của người xung quanh, môi trường và hoàn cảnh. Những người sống gần chúng ta, đặc biệt là những người mà ta kính trọng có thể làm chúng tat hay đổi suy nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề, mức độ quan tâm đến vấn đề, từ đó dẫn đến thay đổi thái độ. Thái độ phản ánh những điều người ta thích hay không thích, tin hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản [5] Hành vi: Hành vi là “cách ứng xử trong một hoàn cảnh, sự việc nhất định qua hành động”.
Hành vi sử dụng BPTT là những hành động và cách làm để ngăn không có thai[5]. Biện pháp tránh thai: Là các biện pháp can thiệp tác động lên tác nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ. Các BPTT thường áp dụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật khoa cắt đứt đường đi, ngăn cản tinh trùng gặp trứng, hoặc các nỗ lực của cá nhân nhằm tránh thụ thai. Cho đến nay, chưa có phương pháp tránh thai nào đạt hiệu quả 100% và phần lớn thất bại thường là do sử dụng sai cách, sử dụng không kiên định hay không sử dụng các BPTT.
Hiện tại BPTT được chia ra làm 2 loại: BPTT tự nhiên (truyền thông) và BPTT hiện đại [22]. 5 Bao cao su: là một BPTT có hiệu quả, an toàn và rẻ tiền. Đồng thời là một biện pháp duy nhất có thể phòng tránh HIV/AIDS và các STI/STD. Bao cao su có hiệu quả tránh thai cao 98% nếu sử dụng đúng.
An toàn, không có tác dụng phụ của nội tiết. Dễ sử dụng, rẻ tiền, có thể mang theo bên người và sử dụng trong bất cứ thời gian nào, giúp cho nam giới có trách nhiệm trong việc kế hoạch hóa gia đình. Vấn đề dùng thất bại BCS ngoài việc sử dụng sai phương pháp có thể là BCS bị thủng, rách, bị tuột khỏi dương vật. Do đó cần phải kiểm tra thời hạn và chất lượng của BCS trước và sau khi sử dụng.
Ngoài BCS nam, các phương pháp rào chắn khác bao gồm: BCS cho nữ, màng ngăn âm đạo, mũ cổ tử cung, miếng xốp âm đạo, thuốc diệt tinh trùng.các biện pháp này ít lưu hành và hiếm được sử dụng ở giới trẻ ở Việt Nam[2]. Vỉ thuốc tránh thai phối hợp: Có 2 dạng đóng vỉ là 21 viên và 28 viên. Cách dùng là mỗi ngày uống một viên vào một giờ nhất định. Nếu quên uống 1 viên thuốc phải uống viên thuốc bị quên ngay thời điểm nhớ hay phát hiện ra.
Quên uống 2 viên thuốc của 2 ngày liên tiếp trong khoảng ¾ đầu (15 viên đầu) của vỉ thuốc. Trong tình huống này, uống (1 viên x 2 lần) vào ngày phát hiện quên thuốc. Uống (1viên x 2 lần) vào ngày kế tiếp. Kể từ ngày thứ ba, uống mỗi viên mỗi ngày như thường lệ.
Thuốc không còn hiệu quả tránh thai kể từ thời điểm uống thuốc bù. Bắt buộc phải sử dụng một BPTT hỗ trợ kèm theo để tránh TNYM trong chu kỳ có quên hai viên thuốc liên tiếp. Quên uống 2 viên thuốc của hai ngày liên tiếp trong khoảng 5 viên cuối của vỉ thuốc 21 viên thì ngưng uống thuốc và chờ ra kinh trở lại[6]. Thuốc có nhiều tác dụng có lợi: Điều hòa chu kỳ kinh nguyệt, giảm đau bụng kinh, giảm lượng máu kinh 30 - 50%, TTTPH dưới tác dụng của estrogen (tăng hấp thu canxi, giảm mất canxi, ức chế hủy cốt bào),… Một số rối loạn nhẹ khi dùng thuốc TTPH: Tăng cân do ứ nước, tăng chuyển hóa đường đạm, đau vú do tác dụng của EE, nhức đầu, buồn nôn, có thể có rụng tóc, xạm da.
Biến chứng : Thay đổi về đông máu: Tắc nghẽn mạch do huyết khối có thể gặp, do đó không nên dùng ở những người có tiền sử mắc bệnh tim (nhất là các bệnh van tim) và rối loạn đông máu, ở những người có phẫu thuật vùng chậu, trước và sau mổ sáu tháng; Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản: Sau khi ngưng sử dụng 6 TTTPH sự rụng trứng có thể trì hoãn, nhưng sự chậm trễ này chỉ xuất hiện tạm thời và thường giới hạn ở những tháng đầu sau khi ngừng sử dụng TTTPH. Tỉ lệ thụ thai sau 12 tháng sử dụng TTTPH được báo cáo nằm trong khoảng từ (72% - 94%) và cũng tương tự như tỉ lệ thụ thai ở phụ nữ ngưng sử dụng dụng cụ tử cung (71% - 92%), ngưng sử dụng thuốc tránh thai chỉ chứa progestin (70% - 95%), và kế hoạch hóa gia đình bằng phương pháp truyền thống (92%); Ảnh hưởng của thuốc đến sữa mẹ: Nói chung thuốc tránh thai không ảnh hưởng đến sự tiết sữa, tuy nhiên có tài liệu cho rằng lượng sữa ít hơn; Thay đổi chuyển hóa: Tăng triglyceride, giảm đường, tăng phospholipide trong máu, tăng khả năng gắn đồng, sắt và kẽm trong huyết thanh…Đặc biệt là khả năng dung nạp glucose giảm, cần tránh dùng thuốc tránh thai cho những người có tiền căn đái tháo đường; Tăng huyết áp: EE có tác dụng giữ muối nước, progestogen làm tăng sự đồng hóa. Tuy nhiên, những người dùng thuốc tránh thai, tăng huyết áp ít quan sát thấy trong vài tháng đầu so với người không dùng thuốc, song sau đó giữ ở mức bình thường. Vì vậy, những người cao huyết áp nên tránh dùng thuốc tránh thai; Rối loạn chức năng gan – vàng da: Steroid có làm thay đổi nhiều chức năng gan.
Có tác giả nhận thấy chức năng bài tiết bromosulfophtalein giảm đi 40% và gặp 1/45.000 người dùng thuốc tránh thai. Thường xảy ra ở những người có tiền sử vàng da trong những lần mang thai trước và khỏi khi ngưng thuốc [6], [53]. Thuốc tránh thai khẩn cấp (tránh thai sau giao hợp): là loại thuốc tránh thai chứa progestin liều cao. Thuốc TTKC dùng cho phụ nữ sau giao hợp không được bảo vệ, rách BCS khi sử dụng hoặc quên uống thuốc tránh thai hằng ngày hay bị hiếp dâm.
Thuốc TTKC có thể gây ra một số tác dụng phụ như rong huyết (do thuốc làm teo, bong niêm mạc tử cung), nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi và buồn nôn. Thị trường hiện tại có 3 biệt dược thông dụng là Postinor, Escapelle và Mifestad. Postinor có 2 viên uống 1 viên trong vòng 72 giờ sau giao hợp và uống viên thứ 2 cách viên thứ nhất 12 giờ. Escapell chỉ có 1 viên uống càng sớm càng tốt trong vòng 72 giờ sau QHTD, có thể kéo dài 120 giờ sau giao hợp.
Mifestad loại một viên nén, uống một liều duy nhất, dùng trong vòng 120 giờ sau giao hợp không được bảo vệ. Không dùng thuốc quá 2 lần thuốc TTKC trong 1 tháng [6]. Về tác 7 dụng phụ: Các nghiên cứu ghi nhận một số dấu hiệu gặp như mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, nôn. Nhiều nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ tác dụng phụ của thuốc TTKC dạng kết hợp buồn nôn 50%, nôn 19% cao hơn so với thuốc tránh thai khẩn cấp chỉ chứa Progestin lần lượt là 23% và 5,6%, thuốc TTKC Mifestad được ghi nhận có ít tác dụng phụ hơn cả.
Xu hướng hiện nay là sử dụng chỉ có progestin đơn thuần hay là Mifepristone, khó có thể biết trước được người nào sử dụng thì sẽ bị tác dụng phụ. Ngoài ra thuốc TTKC còn có thể gây căng tức vú, các triệu chứng như cương đau vú, nhức đầu, chóng mặt và mệt mỏi không kéo dài quá 24 giờ. Ra máu tử cung bất thường có thể gặp trong một số trường hợp, thuốc TTKC không gây ra kinh nguyệt ngay lập tức, nhưng nếu không có kinh trong vòng 21 ngày sau khi dùng thuốc thì nên dùng kiểm tra có thai [6],[18]. Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên trên thế giới và Việt Nam Theo Điều tra Quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam năm 2003 và lần 2 năm 2008 cho thấy sau 5 năm tỉ lệ phần trăm những người chưa kết hôn nhưng đã có quan hệ tình dục (QHTD) ở thành thị và nông thôn đã tăng lên rõ rệt, tỉ lệ phần trăm QHTD theo nhóm tuổi cũng tăng lên.
Ở đối tượng dân tộc thiểu số (DTTS) tỉ lệ QHTDTHN ở nam tăng hơn gấp đôi (từ 5,8% lên 13%) [9],[10]. Xu hướng bùng nổ thông tin và toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng, sự giao lưu dễ dàng với các nền văn hóa, suy nghĩ thoáng về QHTD đã ảnh hưởng mạnh tới quan niệm, lối sống của giới trẻ Việt Nam. Với đặc điểm e ngại cho nên giới trẻ Việt Nam thường thiếu thông tin và khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS[23]. Tại Bắc Kinh, Trung Quốc, một nghiên cứu trên 12450 sinh viên cho biết 81,9% ở nam và 74,8% ở nữ cho rằng QHTDTHN là có thể chấp nhận được, 18,4% ở nam và 10,5% ở nữ đã từng có QHTDTHN[59].
Tại Việt Nam, theo “Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam” (Survey Asessment of Vietnamese Youth) gọi tắt là SAVY1 (2003) và SAVY2 (2010) là điều tra đầu tiên được tiến hành trên phạm vi toàn quốc về VTN và thanh niên nhằm tìm hiểu và đánh giá các vấn đề có liên quan đến sự phát triển 8 của thanh thiếu niên. Trong đó có các vấn đề về tình dục và sức khỏe sinh sản. Số liệu của SAVY 2 cho thấy, có 9,5 % thanh niên Việt Nam đã từng có QHTD trước hôn nhân (tỉ lệ này ở SAVY 1 là 7,5%). Tuổi QHTD trung bình lần đầu của thanh niên có xu hướng giảm từ 19,6 tuổi ở SAVY 1 xuống còn 18,1 tuổi ở SAVY 2.
Cụ thể là đối với nữ tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình là 18 tuổi và đối với nam là 18,2, tuổi quan hệ tình dục đầu tiên đã giảm 1,5 năm. Cho thấy thanh thiếu niên đang có xu hướng quan hệ tình dục sớm [9],[10].