CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Tham vấn học đường ra đời ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20 và bắt nguồn từ hoạt động hướng nghiệp trong trường học. Các khóa học bao gồm các bài học mô tả về nghề nghiệp, sở thích, đặc điểm cần phát triển, các vấn đề tư tưởng và hành vi sai trái cần được hạn chế đối với một số nghề nghiệp nhất định.
Cuốn sách “Chọn nghề” (Choosing a Vocation) của Frank Parsons (1854-1908), Một nỗ lực nghiên cứu được coi là "Cha đẻ của Hướng nghiệp" đánh dấu một cống hiến to lớn trong lĩnh vực tham vấn nghề nghiệp. Ông lưu ý rằng tham vấn nghề nghiệp và tham vấn cá nhân trong hệ thống trường học đóng một vai trò quan trọng. Nghiên cứu của ông kết luận rằng tham vấn nghề nghiệp bao gồm ba quá trình: Thứ nhất, hiểu rõ về khả năng, sở thích, tham vọng, động lực, điểm mạnh và hạn chế của một người. Thứ hai, yêu cầu về kiến thức, điều kiện thành công, thuận lợi, khó khăn, phần thưởng, cơ hội và triển vọng phát triển nghề nghiệp.
Thứ ba, lý do của hai nhóm mối quan hệ trên. Quan điểm của Frank Parsons thực sự trở thành tín ngưỡng của tham vấn. Ông nói: Điều quan trọng là phải có một người cố vấn chuyên nghiệp, một người cố vấn giỏi không thể đưa ra quyết định cho người khác mà phải quyết định điều gì là tốt nhất cho mình; người tham vấn phải thân thiện, cởi mở, trung thực và tử tế, vì điều này rất quan trọng để giúp khách hàng tiếp cận họ tiềm năng. Frank Parson đã sử dụng các khái niệm tâm lý học như đặc điểm tính khí, tính khí của mỗi cá nhân và so sánh chúng với các yếu tố được coi là cần thiết cho một nghề để đánh giá mức độ phù hợp với nghề đó.
Ông dựa trên những tiến bộ và tính toán về xác suất, di truyền, độ lệch chuẩn và hệ số tương quan trong khoa học thống kê bắt đầu từ thế kỷ trước, đặc biệt là các khái niệm thống kê từ các nhà nhân học. Francis Galton 7 (1822-1911) và Karl Pearson, để thiết lập và tiến hành trắc nghiệm, chẩn đoán tâm lý nghề nghiệp trong tham vấn hướng nghiệp. Tiếp theo, Carl Rogers là nhà tâm lý học, tâm lý trị liệu hàng đầu của thế kỷ 20, đã đưa ngành tham vấn tâm lý lên địa vị quan trọng với phương pháp tham vấn thân chủ trọng tâm và học trò là trung tâm trong tham vấn học đường. Một trong những nghiên cứu của Carl Rogers có giá trị to lớn, đánh dấu sự ra đời của ngành, nghề tham vấn đó là cuốn “Tham vấn và tâm lý trị liệu” (Counseling and Psychotherapy) được xuất bản đầu năm 1942.
Ông cho rằng, tham vấn học đường có ý nghĩa lắng nghe, động viên, giúp đỡ giải quyết các khó khăn trong học tập và chia sẻ tâm tư tình cảm, giải toả stress, cải thiện môi trường giáo dục, con người nhân ái, nhân văn được tôn trọng. Với ông, tham vấn được thay đổi theo hướng thân chủ - trọng tâm, sử dụng phương pháp gián tiếp khi tiếp cận với thân chủ, tin tưởng vào khả năng bật dậy của con người. Thông qua tiếp cận, sẽ cung cấp cho thân chủ những điều kiện cần thiết để có thể đối diện với chính mình, trên cơ sở đó có thể giải tỏa những bế tắc của bản thân. Vào khoảng cuối những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỉ 20, Norm Gysbers và các cộng sự, tiểu bang Missouri, đã chứng minh mối quan hệ thiết thực giữa tham vấn học đường và sự thành đạt của học sinh, sinh viên; đã đưa tham vấn học đường từ một nghề nghiệp ít ai để ý đến trở thành một hoạt động thiết yếu mang tính chiến lược và có mục tiêu hệ thống trong chương trình tham vấn học đường cho mọi học sinh từ tiểu học đến trung học.
Ở Pháp, đầu thế kỷ 20 có một tổ chức có chức năng hướng dẫn tham vấn viên/nhà tâm lý, trao đổi thông tin, phát triển sự nghiệp tham vấn, tổ chức và tham gia các hội thảo quốc gia và quốc tế về tham vấn và tâm lý, đó là Hiệp hội tham vấn định hướng tâm lý Pháp. Năm 1928, đã có các khóa đào tạo tham vấn hướng nghiệp. Sau đó là các khóa tham vấn hướng học và hướng nghiệp. Đến năm 1972 là khóa đào tạo tham vấn viên định hướng.
Đến năm 1991, các học sinh sau khi tốt nghiệp được chính thức công nhận bằng Tâm lý học. 8 Vào những năm 1970, Planders, thuộc Vương quốc Bỉ đã thành lập hệ thống các trung tâm hỗ trợ tâm lý, y tế, xã hội (PMS) nhằm mục đích hỗ trợ HS từ mẫu giáo đến trung học. Sau gần 30 năm hoạt động, đến năm 1999, trên cơ sở sáp nhập PMS với các trung tâm y tế học đường thành trung tâm tham vấn giáo dục hoạt động với kinh phí do nhà nước cấp ngân sách. Từ đây giữa chuyên viên tham vấn học đường và giáo viên có sự hợp tác thích hợp, chăm lo về mặt học tập, hướng nghiệp, y tế và tình hình phát triển tâm lý xã hội cho từng HS, nhất là những HS có vấn đề cần hỗ trợ.
Tại Singapore, các Trung tâm Gia sư đã được thành lập từ năm 1966. Năm 1976, Trung tâm Dịch vụ Chăm sóc Sinh viên được thành lập. Chức năng của trung tâm là giúp học sinh phát huy hết khả năng và vượt qua khó khăn trong học tập và cuộc sống, ngoài ra trung tâm còn đào tạo giáo viên tham vấn (theo giáo trình của Bộ Giáo dục), do Bộ Giáo dục tổ chức. Cục Đào tạo Viên chức, Bộ Giáo dục.
Các nhiệm vụ chính của trung tâm bao gồm: chăm sóc tình huống và tham vấn gia đình; dịch vụ tâm lý; chăm sóc thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn; tham vấn cho sinh viên; đào tạo và phát triển tình nguyện viên. Các nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu, đây là nền tảng khoa học để triển khai các nghiên cứu trong công tác quản lý nhà trường. Công trình nghiên cứu về “Những vấn đề quản lý trường học” của tập thể các tác giả, chủ biên là P.Xaxerdotop, các tác giả đã đưa vào công trình của mình những nguyên tắc quản lý của Lênin về sự lãnh đạo nền giáo dục nhân dân để xây dựng cơ sở lý luận khoa học QLGD; 1. Những nghiên cứu ở Việt Nam Trong công trình nghiên cứu “Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường”, nhóm các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quang Kính, Phạm Đỗ Nhật Tiến [29] tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà trường, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm 9 nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà trường đối với bộ môn quản lý (hiệu trưởng).
Các nguyên tắc cơ bản cần thiết để áp dụng trong. Năm 2018, tác giả Đặng Thị Bích Nga nghiên cứu: “Thực trạng quản lí hoạt động tham vấn học đường ở các trường phổ thông quận 11, thành phố Hồ Chí Minh”. Kết quả khảo sát cho thấy, bên cạnh những nội dung quản lí đã thực hiện tốt, việc quản lí quản lý hoạt động tham vấn học đường (HĐTVHĐ) của hiệu trưởng các trường THPT quận 11, TP. Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại những hạn chế như: việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện HĐTVHĐ còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa chú trọng đến chuyên ngành của người được tuyển dụng làm công tác TVHĐ, chế độ chính sách cho tham vấn viên và những người làm công tác tham vấn chưa phù hợp, cơ sở vật chất của các phòng tham vấn vẫn chưa được đầu tư đúng mức, chưa thường xuyên chủ động tìm hiểu vấn đề của HS khi xây dựng nội dung tham vấn.
Những hạn chế trong công tác quản lí HĐTVHĐ chủ yếu là do nhận thức của CBQL các cấp, các ban ngành về HĐTVHĐ vẫn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, thiếu sự thống nhất dẫn đến việc quản lí còn mang tính chủ quan, thụ động. Những hạn chế này là cơ sở để hiệu trưởng các trường này đề xuất những biện pháp quản lí hiệu quả [14]. Ngoài ra, thời gian gần đây, tác giả Ngô Xuân Chiến bảo vệ luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản lý giáo dục (2018) nghiên cứu về vấn đề này cụ thể như: “Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tham vấn học đường cho giáo viên ở các trường Tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”); luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản lý giáo dục (2018) của tác giả Nguyễn Thị Thắm nghiên cứu “Tổ chức hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên”,. Có thể thấy, trên bình diện quốc tế, hoạt động tham vấn đã trải qua một quá trình tương đối lâu dài và được nghiên cứu ứng dụng một cách chuyên nghiệp.
Ở Việt Nam, tham vấn cũng được quan tâm từ rất sớm. Nhưng nhìn chung chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tham vấn tâm lý học đường đi sâu tìm hiểu đặc điểm tâm lý khác nhau của học sinh THCS và hoạt động của các 10 lứa tuổi khác nhau, từ đó đề xuất các giải pháp giúp đỡ, hỗ trợ tâm lý học sinh cho lứa tuổi vị thành niên và học sinh THCS. Năng lực ứng xử, giải quyết các tình huống, các mối quan hệ để tham gia vào quá trình học tập thuận lợi, đạt kết quả tốt, góp phần cải thiện hiệu quả môi trường giáo dục, mang lại lợi ích thiết thực, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tuy nhiên vấn đề về giáo dục và quản lý hoạt động TVTL học đường cho HS trong nhà trường phổ thông là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ, là sự kết hợp nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục và một số ngành khác như tâm lý học, xã hội học và hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu về “Quản lý hoạt động tham vấn tâm lý học đường cho học sinh THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”.
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài này để nghiên cứu với mong muốn rằng kết quả nghiên cứu sẽ ứng dụng và triển khai hữu ích tại các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình nói riêng và cấp THCS nói chung. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Thuật ngữ “quản lý” đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước định nghĩa theo các cách tiếp cận khác nhau. Trong Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [33].