Chương 1: Cơ sở lí luận về hành vi gây hấn của học sinh trung học cơ sở Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu hành vi gây hấn của học sinh trung học cơ sở Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn hành vi gây hấn của học sinh trung học cơ sở 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HÀNH VI GÂY HẤN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hành vi gây hấn ở trường học trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề nhức nhối và được toàn xã hội quan tâm. Do vậy, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và cả Việt Nam tập trung nghiên cứu vấn đề này.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về HVGH trong trường học cho thấy, các nghiên cứu tập trung vào việc giải quyết các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về HVGH như: 1) Hướng nghiên cứu lý luận về HVGH; 2) Hướng nghiên cứu thực tiễn HVGH; 3) Hướng nghiên cứu các yếu tố dự báo đến HVGH; 4) Hướng nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa, can thiệp HVGH Dưới đây, chúng tôi sẽ tổng hợp một số những nghiên cứu về vấn đề này theo các hướng nghiên cứu nêu trên. Hướng nghiên cứu lí luận về hành vi gây hấn Các lý thuyết chính về hành vi gây hấn Trên phương diện lí thuyết, các nghiên cứu về HVGH chủ yếu tập trung tìm hiểu khái niệm, bản chất, nguồn gốc và cách thức giảm thiểu hành vi này ở con người. Từ những thập niên 60 của thế kỉ XX, các nhà tâm lí học nghiên cứu về HVGH như Baron, Berkowitz, Buss, Zillmann. đều thừa nhận rằng gây hấn là một khái niệm khó nắm bắt và người ta đã tranh cãi gay gắt về cách định nghĩa gây hấn một cách chính xác nhất.
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau song phần lớn các nhà tâm lí học đều thống nhất một cách hiểu về khái niệm HVGH như là cách cư xử có chủ ý, gây tổn thương cho người khác, nhờ đó quá trình nghiên cứu phân tích và đưa ra các giải pháp được dễ dàng và cụ thể hơn, giảm thiểu các hiệu quả tiêu cực do hành vi này mang lại. Một số lý thuyết về HVGH được kế thừa trong việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài như lý thuyết bản năng, lý thuyết thất vọng hay lý thuyết học tập xã hội về HVGH sẽ được trình bày dưới đây. 10 Lý thuyết bản năng: Nói đến lý thuyết bản năng về gây hấn, trước hết phải kể đến đại diện là Darwin. Ông kh ng định rằng: khi cuộc sống trở nên khó khăn hơn như có nạn đói hoặc chiến tranh, sự cạnh tranh sẽ xuất hiện để giúp cho cá thể có thể sinh tồn và duy trì sự sống và trong quá trình ấy, sự chọn lọc tự nhiên được diễn ra.
Trong suốt quá trình phát triển của loài người, hung tính đóng vai trò quan trọng trong sự sống còn của các thành viên. Trong thời kì nguyên thủy, con người đã hình thành hung tính, gây hấn để săn bắt, giết chết các con vật, tiêu diệt các bộ lạc, thị tộc khác, giành người đẹp hoặc lãnh thổ của nhau… như vậy, HVGH chính là phương tiện để thỏa mãn bản năng sinh tồn của con người [Dẫn theo 14]. Thuyết bản năng của Frued (1920) và Lorenz (1966) đã trả lời cho câu hỏi: Gây hấn do yếu tố bẩm sinh quy định hay đó là kết quả của những gì con người học được trong quá trình sống? Thuyết bản năng xem xét sự gây hấn như là một bản năng bẩm sinh và cần thiết nhằm đảm bảo cho cá nhân tồn tại. Các cá thể phải gây chiến với nhau để giành cơ hội tiếp cận với những nguồn tài nguyên có giá trị như lương thực, đất đai, địa vị xã hội… Gây hấn là cần thiết trong nỗ lực đấu tranh để tồn tại và chọn lọc tự nhiên thuận tiện cho sự phát triển bản năng hiếu chiến của con người [Dẫn theo 14].
Như vậy, theo lý thuyết này, HVGH có nguồn gốc bẩm sinh, được bộc lộ qua những hành động cụ thể để giúp cho cá nhân duy trì sự tồn tại, sống còn của mình. Lý thuyết thất vọng: Khác với các quan điểm đến từ thuyết bẩm sinh, các tác giả Dollard, Doob, Miller, Mowrer, Sears (1939); Miller (1941) với lý thuyết thất vọng cho rằng nguồn gốc gây hấn không phải do bản năng sống, do gen hay do đặc điểm giải phẫu cơ thể quy định, gây hấn bắt nguồn từ sự đáp lại những hụt hẫng và đau đớn. 11 Theo Dollard, nếu sự thất vọng lặp đi lặp lại nhiều lần thì một lúc nào đó nó sẽ bùng lên, dẫn đến những HVGH quyết liệt. Mô hình John Dollard giải thích về sự thất vọng tạo nên gây hấn: Nhanh Gây hấn chóng đi Bị thúc trực tiếp đến gây đẩy tới hấn gây hấn Tâm Gây hấn Gây hấn Điều kiện trạng bị đẩy chuyển khác cho thất vào bên đi phản ứng vọng trong (VD: sự rút bỏ) Theo lý thuyết này, những người có xu hướng hành vi tấn công người khác và thuộc tuýp người hung hãn, dễ bị kích động.
Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, rất nhiều trường hợp thủ phạm của HVGH được đánh giá là hiền từ, nhút nhát. Quan điểm này cho thấy nếu một người bị ngăn cản hoạt động để đạt tới mục đích nào đó sẽ có nguy cơ bị hụt hẫng. Anh ta sẽ phản ứng đối với những hẫng hụt đó bằng cách gây hấn với người hoặc vật thể cản trở hoạt động của anh ta, nhằm mau chóng thoát khỏi tình huống không thể chịu nổi [Dẫn theo 16]. Lí thuyết này tiếp cận giải thích HVGH của con người từ sự thất vọng, hẫng hụt của bản thân.
Tiếp cận HVGH theo lý thuyết này chỉ ra, sự tức giận, hẫng hụt, thất vọng, hay thái độ thù địch là những biểu hiện cụ thể của HVGH. Như vậy, theo lý thuyết thất vọng thì HVGH là những phản ứng của cá nhân để đáp trả những hẫng hụt mà cá nhân đó đang phải trải qua trong cuộc sống như một cơ chế phòng vệ. 12 Lý thuyết học tập xã hội Lý thuyết học tập xã hội về HVGH (Bandura, 1963) lại cho rằng gây hấn là kết quả của sự bắt chước và học hỏi xã hội. Theo tác giả Bandura, phần lớn các ứng xử của con người có được là do bắt chước.
Nếu bố mẹ, thầy cô giáo tỏ ra hung hãn thì trẻ sẽ mau chóng bắt chước và thấy hành vi đó là bình thường. Ngược lại, nếu trẻ bị phạt một cách đúng mức vì cách ứng xử thô bạo thì tần số các HVGH của chúng cũng sẽ giảm dần. Ngoài ra trẻ dễ bị rơi vào các tưởng tượng hung tính, nhất là khi xem các bộ phim gây hấn và đồng nhất mình với các nhân vật trong phim. Bandura và các nhà tâm lí học theo thuyết học tập xã hội kh ng định phim ảnh có một tầm quan trọng trong việc hình thành và củng cố các ứng xử gây hấn ở trẻ em [Dẫn theo 16].
Như vậy, theo lý thuyết này, HVGH được hình thành do tập nhiễm, bắt chước. Cá nhân sống trong môi trường có nhiều yếu tố bạo lực sẽ có nguy cơ cao thực hiện các hành vi bạo lực, HVGH sau này. Đây cũng là cơ sở để đề tài xác định những yếu tố dự báo HVGH của học sinh THCS. Tóm lại, các lý thuyết trên đưa ra được những quan điểm khác nhau về nguồn gốc cũng như biểu hiện của HVGH trong cuộc sống.
HVGH có thể do yếu tố bẩm sinh, di truyền quy định như là một hành vi tự vệ, giúp cá nhân đấu tranh để sinh tồn, cũng có thể là những phản ứng của cơ thể nhằm đáp lại những hụt hẫng mà cá nhân đang phải trải qua. HVGH có thể được hình thành thông qua con đường bắt chước, tập nhiễm từ các yếu tố môi trường xung quanh. Hướng nghiên cứu thực tiễn hành vi gây hấn trong trường học Trên thực tế, trong những năm qua đã có rất nhiều nhà khoa học khác nhau trên thế giới quan tâm, tiến hành các nghiên cứu thực trạng HVGH trong trường học. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc chỉ ra thực trạng biểu hiện tỉ lệ, mức độ, nguyên nhân, đo đạc của HVGH trong trường học hiện nay.
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi khái quát các công trình nghiên 13 cứu trong và ngoài nước về thực trạng HVGH trong trường học theo các nhóm vấn đề trên. Thực trạng tỉ lệ, mức độ hành vi gây hấn trong trường học Hành vi gây hấn nói chung và HVGH trong trường học nói riêng là vấn đề vô cùng nhức nhối, đã được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Nghiên cứu được tiến hành bởi AshfordR (2009) cùng với Tổ chức Phát triển Quốc tế tại Mỹ năm 2009 cho biết có 11,1% các học sinh tham gia đánh nhau trong đó có 6,7% học sinh nữ và 15,1% học sinh nam. Có 19,9% các học sinh thừa nhận bị dọa nạt và 5% học sinh đã không đến trường do cảm thấy không an toàn trong chính trường học của mình trong 1 tháng điều tra [45].
Nghiên cứu của Hiệp hội SIDA (Swedish Internatinal Development Cooperation Agency) năm 2011 trong trường học tại các nước Li-băng, Mô- rô-cô và Y-ê-men đã thống kê được các con số cụ thể về thực trạng gây hấn trong trường học như: Tại Mô-rô-cô có 58,8% học sinh trong độ tuổi 12-13 tuổi thừa nhận đã bị các thầy cô giáo sử dụng hình phạt thể chất, 35% học sinh cho rằng các em đã bị bạo hành tâm lý. Nghiêm trọng hơn, tại Li-băng số lượng học sinh thừa nhận đã bị bạo hành tại trường học lên tới 91,8% và có đến 45,6% học sinh đã thực hiện HVGH hoặc bị gây hấn. Tác giả Griffiths nghiên cứu trên 8.000 học sinh 7 tuổi của viện nhi London về tình trạng trẻ em béo phì và đưa ra kết quả nghiên cứu như sau: Trẻ em bị béo phì có nguy cơ bị bắt nạt, bị gây hấn cao gấp 2 lần so với trẻ em bình thường và thường phải gánh chịu hậu quả lâu dài về sức khỏe, đặc biệt còn có nguy cơ đối mặt với những rắc rối về mặt xã hội và tâm lý [80]. Kết quả nghiên cứu của Tarshis (Hiệp hội trẻ em vịnh Area, Mỹ) thử nghiệm trên 270 học sinh từ lớp 3 đến lớp 6 tại 3 trường khác nhau ở Mỹ về thực trạng HVGH trong trường học cho thấy: Gần 90% học sinh từ lớp 3 đến lớp 6 tại Mỹ từng ít nhất một lần bị bạn học bắt nạt, ức hiếp.
Ngoài ra, có đến 59% học sinh thừa nhận đã từng có hành động bắt nạt các bạn khác [119].