CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ STRESS VÀ ỨNG PHÓ VỚI STRESS Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về stress Stress từ lâu đã là một khái niệm quen thuộc trong đời sống của con người, được sử dụng để chỉ tình trạng căng thẳng về mặt tâm lý và sinh lý khi con người phải đối mặt với những tình huống nguy hiểm hay những tình huống đòi hỏi phải nỗ lực để thích ứng hoặc vượt qua. Những nghiên cứu về stress đã được triển khai từ rất lâu trên rất nhiều đối tượng cũng như ở các phương diện: các nguồn gây stress, mức độ stress, các yếu tố liên quan và các cách ứng phó đối với stress… Trong luận văn này, tác giả tập trung tổng quan những nghiên cứu về stress ở những đối tượng đang trong thời gian đi học (học sinh, học sinh) mà cụ thể là học sinh trung học phổ thông.
Isakson và Jarvis (1999) cho rằng học sinh hàng ngày phải đối mặt với 2 loại nguồn gây căng thẳng, đó là những tác nhân bình thường và không bình thường. Những tác nhân bình thường bao gồm sự thay đổi của phát triển tâm sinh lý, sự gia tăng áp lực trong học tập… Còn những tác nhân không bình thường có thể xuất phát từ những tình huống bất ngờ như thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh…[32] Compas (1987), Slim (2000) thì cho rằng stress của học sinh đến từ những sự kiện trong đời sống hàng ngày như mất người thân, gia đình tan vỡ… hoặc những rắc rối lặp đi lặp lại như mâu thuẫn trong các mối quan hệ, các yêu cầu trong học tập… Những yếu tố này kết hợp với nhau trở thành các tác nhân mạnh mẽ tạo nên stress của học sinh.[33][37] Trong nghiên cứu của mình, các tác giả Byrne, Devenport và Masanov (2007) đã chỉ ra 10 lĩnh vực gây nên stress. Bốn nguồn trong số đó liên quan đến các vấn đề về học tập, các lĩnh vực còn lại xuất phát từ các mối quan hệ cá nhân, đời sống gia đình, áp lực tài chính, lo lắng về tương lai và trách nhiệm trưởng thành. [32] Trong những nguồn gây stress cho học sinh thì các vấn đề học tập là một trong những chủ đề được quan tâm nhiều nhất.
Một số tác giả như Crystal và cộng sự (1994), De Anda (2000), Lohman và Jarvis (2000) quan tâm đến những vấn đề mà học sinh phải đối mặt liên quan đến học tập như các bài kiểm tra, bài tập, kỳ vọng về thành tích… và cho rằng đây chính là những nguồn gây stress lớn nhất cho học sinh. [32] Các loại tác nhân gây stress liên quan đến trường học theo Byrne (2007) là thành tích học tập, sự tham gia các hoạt động, tương tác với giáo viên và sự cân bằng giữa học tập và giải trí. Một trong những nguồn gây stress liên quan tới học tập cụ thể là thành tích học tập (điểm thi), mà đặc biệt liên quan tới học sinh cuối cấp trung học phổ thông khi các em phải trải qua các kì thi để có thể đạt được điểm cao nhằm có những cơ hội tốt để vào đại học (Mcnamara, 2000), (Mathews, 2004). [32] 5 Tại Việt Nam những năm gần đây các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến vấn đề nghiên cứu stress ở học sinh, học sinh.
Có thể kế đến những công trình nghiên cứu như: Phạm Thị Thanh Hương (2003), với luận văn Stress trong học tập của học sinh đã bước đầu hệ thống hoá cơ sở lý luận về stress, đồng thời tìm hiểu mức độ và những biểu hiện stress trong học tập của học sinh, xác định các nguyên nhân gây nên stress trong học tập của học sinh.[2] Phạm Thanh Bình (2005) với nghiên cứu Biểu hiện stress trong học tập của học sinh trung học phổ thông. Tác giả đã tìm hiểu cơ sở lý luận về stress, stress trong học tập của học sinh THPT; khảo sát thực trạng những biểu hiện và nguyên nhân gây ra stress trong học tập của học sinh THPT nói chung và ở môn Toán nói riêng, đồng thời thực nghiệm tác động làm giảm một số biểu hiện stress có hại trong học tập môn Toán. Trong nghiên cứu này có một số kết quả đáng lưu ý như mức độ căng thẳng tăng theo khối lớp, có sự khác biệt vê mức độ căng thẳng giữa học sinh nam và học sinh nữ, học sinh có học lực khá, giỏi và học lực trung bình…[1] Lại Thế Luyện (2006) trong nghiên cứu "Biểu hiện căng thẳng của học sinh đại học Sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh" lại tập trung tìm hiểu những biểu hiện của stress ở học sinh, đó là nét mật căng thẳng, không tập trung, trì hoãn học tập và kết quả học tập giảm sút. Những nguyên nhân chính tạo nên stress theo tác giả là chương trình học tập nặng và áp lực thi cử quá lớn.[6] Cùng quan điểm, Nguyễn Thị Hồng Nhưỡng (2010) trong nghiên cứu "Căng thẳng trong học tập của học sinh Đại học Sư phạm Hà Nội" cũng cho rằng nguyên nhân tạo nên stress là do áp lực học tập và thi cử.
Trong nghiên cứu này, tác giả cũng bước đầu chỉ ra mặc dù phải đối mặt với stress khá nặng nề nhưng học sinh chưa có cách ứng phó để phòng ngừa và giảm căng thẳng.[7] Nghiên cứu "Căng thẳng của học sinh trung học phổ thông" của Đỗ Thị Lệ Hằng (2013) đã bổ sung và phát triển thêm lý luận về căng thẳng và căng thẳng của học sinh THPT cụ thể: xác định được khái niệm, các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của học sinh trung học phổ thông, vai trò ảnh hưởng của đánh giá cá nhân đến mức độ căng thẳng và cách ứng phó. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy bên cạnh đánh giá cá nhân, thì đối với học sinh THPT, chỗ dựa xã hội, tính lạc quan – bi quan cũng là các yếu tố tác động đến mức độ căng thẳng. Đây là phát hiện mới bổ sung cho các luận điểm lý thuyết nghiên cứu về căng thẳng ở lứa tuổi cuối vị thành niên. [3] Gần đây, một số nghiên cứu về stress của học sinh trung học phổ thông được tiến hành trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có thể kể đến như nghiên cứu của bênh viện tâm thần Đà Nẵng (năm) Đánh giá các stress và sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông tại Đà Nẵng.
Nghiên cứu này sử dụng bảng hỏi CBCL (child behavior checklist) để đánh giá rối loạn tâm lý của học sinh phổ thông, đồng thời xây dựng bảng hỏi để xác định các sự kiện gây stress ở học sinh, từ đó phân tích các mối liên hệ giữa 6 các sự kiện gây stress và các vấn đề rối loạn tâm lý của học sinh trung học phổ thông tại 4 trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhìn chung stress của học sinh đa phần liên quan đến các sự kiện học tập. Các yếu tố rối loạn tâm lý hướng ngoại có tương quan với stress nhưng mức độ tương quan thấp hơn so với rối loạn tâm lý hướng nội, đặc biệt các vấn đề trong gia đình không tương quan với rối loạn tâm lý hướng nội. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng Phương, Đinh Xuân Lâm (2019) "Thực trạng mức độ căng thẳng trong học tập của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" đã tiến hành khảo sát thực trạng, biểu hiện, nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của căng thẳng đến đời sống của học sinh lớp 12 tại thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp giúp học sinh tránh được những ảnh hưởng xấu của căng thẳng, giúp các em có trạng thái tâm lí bình thường, ổn định để học tập tốt hơn.
Những nghiên cứu về ứng phó với stress Những nghiên cứu về các cách hay chiến lược ứng phó với stress cũng đã được tiến hành rất nhiều trên thế giới trong những năm gần đây. Nghiên cứu của Skinner và cộng sự (2003) đã tìm ra 100 hệ thống ứng phó khác nhau với hơn 400 cách ứng phó. Còn Lazarus và Folkman (1984) đã đề xuất các cách ứng phó được phân chia thành hai kiểu hay hai chiến lược là ứng phó tập trung vào vấn đề và ứng phó tập trung vào cảm xúc. Ứng phó tập trung vào vấn đề là những nỗ lực thay đổi nhận thức, cảm xúc và hành vi của cá nhân nhằm giải quyết vấn đề đã gây ra stress.
Chiến lược ứng phó này được sử dụng khi cá nhân đánh giá là tình huống gây stress có thể thay đổi được. Chẳng hạn, lập kế hoạch giải quyết hay tìm kiếm sự trợ giúp. Trong khi đó, ứng phó tập trung vào cảm xúc lại hướng đến việc điều chỉnh lại cảm xúc của bản thân khi đối mặt với tình huống căng thẳng mà cá nhân cho là không thể thay đổi hay kiểm soát. Ví dụ, chia sẻ cảm xúc với người khác, hay dành thời gian nghỉ ngơi và thư giãn.
Một nghiên cứu khác đã cho rằng có thể phân loại các chiến lược ứng phó với stress thành các ứng phó chủ động và ứng phó né tránh (Cohen, 1986). Trong đó, ứng phó chủ động là những nỗ lực làm thay đổi nguồn gây stress hoặc thay đổi cách cá nhân nghĩ về nó. Ngược lại, ứng phó né tránh là những cách thức giúp con người không phải đối mặt trực tiếp với vấn đề, làm giảm stress hoặc lo âu trong thời gian ngắn. Tuy nhiên nhiều tác giả nhận định cả hai cách phân loại này đều không hiệu quả vì một số cách ứng phó có thể thuộc vào cả hai kiểu ứng phó (Abraham, 2016; Skinner, 2003).
Chẳng hạn việc cá nhân tìm cách tạm thời tách ra khỏi một vấn đề có thể là để lấy lại bình tĩnh về mặt cảm xúc nhằm giải quyết vấn đề đó tốt hơn. Cụ thể, tiểu thang tìm kiếm chỗ dựa xã hội của Bảng Hỏi Các Cách Ứng Phó (Ways of Coping Questionnaire) của Folkman & Lazarus, 1985 được coi là vừa thuộc chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề, vừa thuộc chiến lược ứng phó tập trung vào cảm xúc. Để 7 khắc phục tình trạng này, cácnhà nghiên cứu thường xây dựng và sử dụng những thang đo trong đó các cách ứng phó được phân loại thành những chiến lược cụ thể hơn. Connor-Smith, Compas, Wadsworth, Thomsen, và Saltzman (2000) cho rằng ứng phó có thể chia thành mười chiến lược bao gồm giải quyết vấn đề, điều hòa cảm xúc, bộc lộ cảm xúc, chấp nhận, sao nhãng, thay đổi nhận thức, suy nghĩ tích cực, chối bỏ, né tránh, và mong ước.
Trong đó, các chiến lược ứng phó giải quyết vấn đề, điều hòa cảm xúc, bộc lộ cảm xúc thuộc nhóm ứng phó gắn kết kiểm soát sơ cấp, được cá nhân sử dụng khi vấn đề gây stress vẫn có thể thay đổi được.