ĐẶT VẤN ĐỀ Trầm cảm là một rối loạn tâm thần đặc trưng bởi khí sắc trầm buồn dai dẳng (ít nhất phải đạt đủ 2 tuần), giảm hứng thú và làm cho một người không còn cảm thấy vui với các hoạt động trước đây từng yêu thích. Bệnh cạnh đó, rối loạn trầm cảm (RLTC) còn gây ra rối loạn về giấc ngủ, ăn uống và giảm mức độ tập trung. RLTC là gánh nặng bệnh tật hàng đầu trên thế giới và tác động của nó có thể kéo dài và gây ảnh hưởng đáng kể đến khả năng hoạt động nói riêng và cuộc sống của một người nói chung (1). Theo thống kê GBD (Global Burden of Disease - Gánh nặng bệnh tật toàn cầu) năm 2019 của Lancet, RLTC đứng hàng thứ năm trong các nguyên nhân gây tử vong trong độ tuổi thanh thiếu niên và có liên đới với 46000 trường hợp tự sát hằng năm (2).
Kết quả trong nghiên cứu phân tích tổng hợp của tác giả Lim G. Các nghiên cứu cũng chỉ ra 350 triệu người trên thế giới chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp của RLTC (4, 5). Hơn một nửa bệnh nhân trầm cảm có chỉ định điều trị nội trú bị tái phát bệnh ít nhất 1-2 chu kỳ mỗi năm; nếu không được điều trị, số lần xuất hiện của bệnh cũng như độ nặng của các triệu chứng có khuynh hướng tăng dần theo thời gian và phát triển thành trầm cảm kháng trị. Ngoài ra, trầm cảm chiếm 2/3 số trường hợp tử vong do tự sát hằng năm.
Về gánh nặng bệnh, RLTC xếp hàng thứ 5 ở nữ và 7 ở nam (6, 7). Các nghiên cứu dịch tễ tại Việt Nam ghi nhận khoảng 4% dân số có RLTC (8). Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (HS THPT) là một giai đoạn phát triển chuyển tiếp từ trẻ em sang người trưởng thành. Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt với một loạt những thay đổi về thể chất, tâm lý và sự thay đổi về các quan hệ xã hội, nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của lứa tuổi.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra lứa tuổi THPT là lứa tuổi dễ nảy sinh nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần nhất so trong các lứa tuổi (9). Trầm cảm ở HS THPT dần trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng kể, ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các em và là nguy cơ cho việc bỏ học, tử tự, lạm dụng các chất gây nghiện (10). Các nghiên cứu được thực hiện trên 2 thế giới cho thấy tỷ lệ mắc các rối loạn sức khỏe tâm thần như stress, rối loạn lo âu, RLTC và hành vi lạm dụng chất kích thích trong nhóm HS THPT rơi vào khoảng từ 20% đến 75%, trong đó trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất (11-13). Tại Việt Nam, tỷ lệ trầm cảm ở HS THPT được ghi nhận dao động từ 10% đến 60% (14-20).
Sự phát hiện sớm trầm cảm và điều trị tích cực vào giai đoạn đầu ở lứa tuổi này rất quan trọng trong việc giảm được sự phát bệnh, phí tổn và các bệnh đi kèm với trầm cảm (21). Ngoài ra, năm 2020 ghi nhận sự bùng phát của dịch COVID-19 trên toàn thế giới. Đến tháng 1/2022, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ghi nhận 323 triệu ca nhiễm và gây tử vong cho 5,5 triệu người (22). COVID-19 đã ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống từ kinh tế, xã hội cho đến sức khỏe trong đó có sức khỏe tâm thần.
Thay đổi thói quen học tập, sống trong vùng cách ly, lo lắng bản thân bị nhiễm bệnh và chứng kiến cái chết của những người xung quanh là những yếu tố của dịch COVID- 19 có thể dẫn đến các rối loạn tâm thần ở học sinh (23). Nghiên cứu của Zhou C (2021) tại Trung Quốc cho thấy kết quả các địa phương đã kiểm soát được dịch sau 2 năm ghi nhận tỷ lệ trầm cảm ở học sinh THPT giảm so với giai đoạn đỉnh dịch (24). Các nghiên cứu khác tại Trung Quốc cũng ghi nhận tỷ lệ trầm cảm cao hơn ở học sinh đang sống tại các vùng có tỷ lệ nhiễm và tử vong trong dân số cao (25, 26). Như vậy các nghiên cứu trên thế giới đã nhấn mạnh yếu tố COVID-19 đến thực trạng trầm cảm ở học sinh.
Tại Việt Nam nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, hiện nay việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho lứa tuổi học đường đã tiến một bước lớn, tuy nhiên sức khỏe tâm thần vẫn chưa được nhận thức và hỗ trợ đầy đủ. Các nghiên cứu chủ đề sức khỏe tâm thần nói chung và về trầm cảm ở lứa tuổi HS THPT nói riêng còn ít và chưa được quan tâm đúng với mức ảnh hưởng và gánh nặng mà nó gây ra cho học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội. Từ những luận điểm nêu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở học sinh Trường Trung học phổ thông Kỳ Lâm, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh năm 2022” nhằm trả lời cho các câu hỏi tỷ lệ học sinh trầm cảm tại Trường Trung học phổ thông Kỳ 3 Lâm là bao nhiêu? Và yếu tố nào có liên quan đến trầm cảm ở học sinh? Từ đó xây dựng các hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần cho các em. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Xác định tỷ lệ trầm cảm ở học sinh Trường trung học phổ thông Kỳ Lâm, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh năm 2022. Phân tích một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở học sinh Trường trung học phổ thông Kỳ Lâm, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về trầm cảm 1.
Định nghĩa Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (APA) định nghĩa: “trầm cảm là một rối loạn khí sắc phổ biến và nghiêm trọng khiến một người có những suy nghĩ, nhìn nhận, hành động tiêu cực. Trầm cảm gây ra cảm giác buồn và/hoặc mất hứng thú đối với công việc từng yêu thích, từ đó làm giảm năng suất lao động” (27). Bên cạnh đó, trầm cảm nếu không được phát hiện sớm và điều trị thì có khả năng tiến triển thành một bệnh mạn tính, tái phát và nghiêm trọng hơn nữa là tình trạng kháng trị. Mức độ nặng của trầm cảm có thể tăng lên nếu như một người đang mắc trầm cảm có các hành vi hút thuốc, rượu bia, ít vận động thể lực và đồng mắc rối loạn giấc ngủ (28).
Nguyên nhân của trầm cảm Một vài yếu tố có thể dẫn đến trầm cảm hoặc gia tăng nguy cơ mắc trầm cảm có thể liệt kê như (27): - Di truyền: trầm cảm mang yếu tố di truyền trong gia đình. Nghiên cứu trên 42161 cặp song sinh tại Thụy Điển ghi nhận hệ số di truyền của RLTC ở một cặp song sinh là 38% (29). - Hóa sinh: sự thiếu hụt một số chất dẫn truyền thần kinh tiêu biểu như Serotonin và Norepinephrine trong não bộ được các nhà khoa học thần kinh cho rằng sẽ gây ra vài triệu chứng như lo âu, bực tức và mệt mỏi. Giả thuyết này được ra đời cách đây 50 năm khi phương pháp điều trị tái ức chế hấp thu Serotonin và Norepinephrine tình cờ được phát hiện sau khi các phác đồ thuốc 3 vòng cũ gây ra nhiều tác dụng phụ.
Phác đồ mới này được ghi nhận giúp giảm trầm cảm với cơ chế giúp ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrine có chọn lọc (30). Tuy có mối liên hệ giữa trầm cảm và các chất dẫn truyền thần kinh chưa đủ để kết luận là mối quan hệ nhân – quả, trong đó trầm cảm dẫn đến tình trạng thiếu hụt Serotonin và Norepinephrine hay ngược lại. (31) - Tính cách: các nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý ghi nhận một cá nhân với những đặc điểm tính cách như lòng tự trọng thấp, tiêu cực, nhạy cảm, bi quan sẽ có 6 nguy cơ mắc phải trầm cảm cao hơn. Nghiên cứu của Roger Hagen (2020) trên 725 người bằng cách sử dụng các trắc nghiệm PHQ-9 (đánh giá mức độ trầm cảm); thang Rosenberg (đánh giá lòng tự trọng) và thang RRS (xu hướng tính cách) ghi nhận có mối liên hệ giữa các mức độ trầm cảm với tính cách của một người (32) - Môi trường sống: sống ở môi trường tiếp xúc nhiều với bạo lực, bị bỏ rơi, sống cô lập, sống trong môi trường thiếu an toàn có thể là các yếu tố nguy cơ với trầm cảm.
Một nghiên cứu phân tích tổng hợp đã chỉ rằng các yếu tố như tiếp xúc từ sớm với những bạo lực từ gia đình đến cộng đồng sinh sống, đặc biệt ở thanh thiếu niên có thể gia tăng mức độ của các rối loạn tâm thần trong đó có trầm cảm (33). Ngoài ra các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bị bỏ bê (bên cạnh cách hình thức lạm dụng khác) có thể gia tăng tình trạng trầm cảm ở trẻ nhỏ và kéo dài cho đến khi trưởng thành (34, 35). Triệu chứng Trầm cảm bao gồm một phổ rộng các cảm xúc tiêu cực trong đó nổi bật là khí sắc trầm buồn, nếu đầy đủ các triệu chứng khác trong một khoảng thời gian từ 4 đến 7 ngày sẽ được gọi là cơn trầm cảm (depression episode), nếu kéo dài đủ 14 ngày sẽ được chẩn đoán là rối loạn trầm cảm (36). Trong tài liệu Phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), chương về các rối loạn tâm thần và hành vi, các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm bao gồm (37): Triệu chứng chính: - Khí sắc trầm - Mất mọi quan tâm và thích thú - Tăng mệt mỏi sau một cố gắng nhỏ Các triệu chứng phổ biến khác: - Giảm sút khả năng tập chung và chú ý - Giảm sút sự tự tin và quý trọng bản thân - Những ý tưởng bị tội và vô giá trị - Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm và bi quan - Ý tưởng, hành vi tự sát hoặc tự hủy hoại - Rối loạn giấc ngủ 7 - Ăn ít ngon miệng (có thể có ăn nhiều) Chẩn đoán mức độ trầm cảm Mức độ nhẹ (F32.0 ICD-10): Phải có ít nhất 2/3 triệu chứng chính cộng thêm 2/7 triệu chứng phổ biến khác.
Thời gian tồn tại các triệu chứng ít nhất 2 tuần.1 ICD-10): 2/3 triệu chứng chính cộng thêm 3/7 triệu chứng phổ biến khác, thời gian 2 tuần.2 ICD-10): 3/3 triệu chứng chính cộng thêm 4/7 triệu chứng phổ biến khác, thời gian 2 tuần. Đánh giá trầm cảm Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chuẩn triệu chứng theo ICD-10 chủ yếu đóng vai trò chẩn đoán trong bối cảnh lâm sàng và người sử dụng thường là bác sĩ chuyên khoa tâm thần có chứng chỉ hành nghề. Việc xác định dấu hiệu trầm cảm tại cộng đồng có thể được thực hiện thông qua các chương trình sàng lọc.