CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về đái tháo đường týp 2 1. Định nghĩa đái tháo đường týp 2 Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) được Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Heath Orgnization) định nghĩa là một nhóm các bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ làm tổn thương, rối loạn và suy chức năng của nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt là các tổn thương ở mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [24], [71].
ĐTĐ thường tiến triển âm thầm trải qua nhiều giai đoạn [6, 13]. Khi đã xuất hiện thì thường kèm theo các biến chứng nguy hiểm. ĐTĐ gồm 5 giai đoạn: - Giảm nhạy cảm với insulin và glucose - Tăng tiết insulin - Tế bào β mất nhạy cảm với insulin - Giảm tiết insulin - ĐTĐ týp 2 1. Dịch tễ học đái tháo đường týp 2 Bệnh ĐTĐ là một bệnh nội tiết chuyển hóa thường gặp nhất và là một bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu.
Bệnh ĐTĐ là một trong những vấn đề sức khỏe của thế kỷ [20]. 4 Theo thống kê của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế IDF (International Diabetes Federation), năm 2021 thế giới có 537 triệu người mắc bệnh đái tháo đường. Dự đoán sẽ tăng lên 578 triệu người vào năm 2030 và 700 triệu người vào năm 2045. Cũng theo IDF 2019, 62 nghiên cứu từ 49 quốc gia cho thấy có 373,9 triệu người trong độ tuổi 20 đến 79 tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới.
Và trong đó 7,5% dân số là người trưởng thành, ước tính có sự suy giảm dung nạp đường (IGT – impaired glucose tolerance). Dự kiến sẽ tăng lên 453,8 triệu – hay 8,0% dân số vào năm 2030. Và tới 548,4 triệu người – tương đương 8,6% dân số đến năm 2045. Tại Việt Nam, năm 2019 có khoảng 3,8 triệu người mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỷ lệ 5,7% [48].
Theo ước tính đến năm 2045 sẽ tăng lên 6,3 triệu người, đây là một con số đáng báo động. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường týp 2 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường týp 2 năm 2020 của Bộ Y Tế [2]. Người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ khi thỏa mãn 1 trong 4 điều kiện sau: a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) Thư viện ĐH Thăng Long 5 c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol).
Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) Người bệnh có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất. Lưu ý: - Glucose huyết đói được đo khi người bệnh nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ).
- Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Người bệnh nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng 75g glucose, hòa trong 250-300 mL nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó người bệnh ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày, không mắc các bệnh lý cấp tính và không sử dụng các thuốc làm tăng glucose huyết. Định lượng glucose huyết tương tĩnh mạch [2]. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường týp 2 Trong nghiên cứu của chúng tôi dựa theo tiêu chuẩn của IDF 2005 về lâm sàng như sau: - Tuổi ≥ 40 tuổi. - Trọng lượng ban đầu thường béo phì.
- Không ăn nhiều và sụt cân. - Hiếm khi nhiễm toan ceton (nếu không điều trị). - Xơ vữa mạch máu lớn. - Không phụ thuộc insulin.
Phân loại đái tháo đường Hiện nay ĐTĐ được chia làm 4 nhóm chính: 1. Đái tháo đường týp 1 Nguyên nhân ĐTĐ týp 1 là do tế bào β của tuyến tụy bị phá hủy, thường dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối. ĐTĐ týp 1 được chia ra thành 2 phân nhóm: - ĐTĐ týp 1 tự miễn: bệnh có đặc điểm là tế bào β tụy bị tồn thương do cơ chế tự miễn với các tự kháng thể như: tự kháng thể tế bào đảo tụy (ICA), tự kháng thể kháng insulin (IAA), tự kháng thể kháng Glutamic Acid Decarboxylase (GAD), tự kháng thể kháng tyrosine phosphatase (IA-2, IA- 2β) và một số tự kháng thể khác. Bệnh ĐTĐ týp 1 tự miễn thường có xu hướng đi kèm với các bệnh nội tiết tự miễn khác như: Basedow, Hashimoto, Adison, bạch biến, thiếu máu ác tính.
- ĐTĐ týp 1 vô căn: bệnh xuất hiện do cơ thể thiếu insulin tuyệt đối nhưng không tìm ra các bằng chứng của bệnh tự miễn. Bệnh có thể nhiễm toan ceton, bệnh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong ĐTĐ týp 1, bệnh thường gặp ở người châu Phi, châu Á, có tính di truyền mạnh [45], [46]. Thư viện ĐH Thăng Long 7 1. Đái tháo đường týp 2 ĐTĐ týp 2 chiếm 90-95% bệnh ĐTĐ.
Trước đây người ta gọi là bệnh ĐTĐ không phụ thuộc insulin, ĐTĐ týp 2 hoặc ĐTĐ khởi phát ở người trưởng thành bao gồm những người có đề kháng insulin gây thiếu hụt insulin tương đối, những người bệnh này không cần điều trị insulin suốt đời. Nguyên nhân ĐTĐ týp 2 là do đề kháng insulin kèm thiếu insulin tương đối. Phần lớn người bệnh ĐTĐ týp 2 do tình trạng béo phì gây ra đề kháng insulin. Một số người bệnh tuy khi đo các chỉ số BMI (Body Mass Index) không béo phì nhưng có thể có tăng tỉ lệ mỡ cơ thể tập trung chủ yếu ở vùng bụng.
Sự đề kháng insulin có thể được cải thiện với sự giảm trọng lượng và/hoặc điều trị tăng đường huyết nhưng hiếm khi phục hồi như bình thường. ĐTĐ týp 2 chiếm tỉ lệ lớn nhưng thường không được chẩn đoán sớm. Bệnh thường có biểu hiện kín đáo trong những năm dài trước khi được chẩn đoán. Tuy nhiên trong những giai đoạn này bệnh đã có những nguy cơ xuất hiện biến chứng.
Phần lớn người bệnh được phát hiện trong bối cảnh xuất hiện biến chứng hoặc qua điều tra cơ bản ĐTĐ [45], [46]. *Phân loại ĐTĐ týp 2 Về hình thái lâm sàng ĐTĐ týp 2 được chia ra làm 2 loại: - ĐTĐ týp 2 thể béo: chiếm 85% các trường hợp ĐTĐ týp 2. Đa số các trường hợp này có kháng insulin ở tế bào đích. Nguyên nhân thường do khiếm khuyết ở hậu thụ thể insulin.
- ĐTĐ týp 2 thể không béo: chiếm 15% còn lại, thường đáp ứng tốt với chế độ ăn và thuốc uống. Đa số những người bệnh này hoạt động của insulin 8 có vấn đề ở mức hậu thụ thể. Khi làm test chẩn đoán đáp ứng của insulin thường biểu hiện bằng việc mất pha đầu hoặc đáp ứng chậm [3]. Các týp đái tháo đường đặc thù khác - Thương tổn chức năng tế bào β di truyền - Thương tổn tác dụng insulin di truyền - Bệnh lý tụy ngoại tiết - Các bệnh lý nội tiết - Do thuốc, hóa chất - Nhiễm trùng - ĐTĐ tự miễn hiếm gặp - Các hội chứng di truyền khác 1.
Đái tháo đường thai nghén ĐTĐ thai nghén là do sự giảm dung nạp glucose hoặc ĐTĐ được phát hiện lần đầu trong lúc mang thai. Bệnh ĐTĐ ngày nay được phân loại thành 4 nhóm chính nhưng thực tế thường gặp là ĐTĐ týp 1 và ĐTĐ týp 2, trong đó ĐTĐ týp 2 chiếm đa số [2, 45, 46]. Tiêu chuẩn phân loại ĐTĐ theo IDF 2005 [45]: Thư viện ĐH Thăng Long 9 Bảng 1. Tiêu chuẩn phân loại ĐTĐ theo IDF 2005 Đặc điểm ĐTĐ týp 1 ĐTĐ týp 2 Khởi phát Rầm rộ, đủ các Chậm, thường không rõ triệu triệu chứng chứng Biểu hiện lâm - Sụt cân nhanh - Thể trạng béo sàng chóng - Có tiền sử gia đình - Đặc - Đái nhiều tính dân tộc, có tỷ lệ mắc bệnh - Uống nhiều cao - Chứng gai đen - Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) Nhiễm ceton Dương tính Thường không có C-peptide Thấp/mất Bình thường hoặc tăng Kháng thể - ICA dương tính - ICA âm tính - Anti-GAD dương - Anti-GAD âm tính tính Điều trị Bắt buộc dùng Thay đổi lối sống, thuốc viên insulin hoặc insulin Kết hợp với bệnh Có Không tự miễn khác 1.
Yếu tố nguy cơ của đái tháo đường týp 2 1. Các yếu tố di truyền Yếu tố di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong bệnh ĐTĐ týp 2. Những đối tượng có mối quan hệ huyết thống với người bị bệnh ĐTĐ như có bố, mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị bệnh ĐTĐ cao gấp 4-6 lần người bình thường (trong gia đình không có ai mắc bệnh 10 ĐTĐ). Nhất là những đối tượng mà cả bên nội và ngoại đều có người mắc bệnh ĐTĐ.
Khi cha hoặc mẹ bị bệnh ĐTĐ thì nguy cơ bị bệnh ĐTĐ của con là 30%, khi cả hai cha mẹ đều bị bệnh thì nguy cơ này tăng tới 50% [4]. Tuổi Tuổi mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo sắc tộc, ở Tây Âu tuổi mắc bệnh ở người da vàng trẻ hơn, thường trên 30 tuổi, ở người da trắng thường trên 50 tuổi [4]. Yếu tố tuổi (đặc biệt là độ tuổi từ 50 trở lên) được xếp lên vị trí đầu tiên trong số các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ týp 2. Ở châu Á, bệnh ĐTĐ týp 2 có tỷ lệ cao ở những người trên 30 tuổi, ở châu Âu bệnh thường xảy ra sau tuổi 50.
Từ 65 tuổi trở lên, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ lên tới 16% [60]. Giới tính Tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ và ĐTĐ ở 2 giới nam và nữ thay đổi tùy thuộc vào các vùng dân cư khác nhau. Ở Bắc Mỹ và Tây Âu tỷ lệ nữ/nam thường là 1/4. Ngay trong quần thể NC tỷ lệ nữ/nam còn tùy thuộc vào tuổi, điều kiện sống, ở đô thị Thái Bình Dương tỷ lệ nữ/nam là 3/1 trong khi ở Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ tỷ lệ mắc ĐTĐ tương đương nhau ở cả hai giới [10].