Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các định nghĩa, khái niệm 1. Các định nghĩa về trầm cảm, lo âu và căng thằng Trầm cảm - Depression (rối loạn trầm cảm): là một rối loạn cảm xúc phổ biến. Trầm cảm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cách thức người bệnh cảm thấy, suy nghĩ và xử lý các hoạt động hàng ngày, như ngủ, ăn uống hoặc làm việc.
Để được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm, các triệu chứng phải xuất hiện và duy trì ít nhất trong hai tuần (11). Lo âu – Anxiety (rối loạn lo âu - Anxiety disorders): đề cập đến một nhóm các rối loạn tâm thần đặc trưng bởi cảm giác lo âu và sợ hãi, bao gồm rối loạn lo âu tổng quát (generalized anxiety disorder- GAD), rối loạn hoảng sợ, ám ảnh, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn ám ảnh cưỡng chế (obsessive-compulsive disorder - OCD) và rối loạn căng thẳng sau sang chấn (post-traumatic căng thẳng disorder - PTSD) (12). Rối loạn lo âu là một nhóm các tình trạng liên quan, mỗi bệnh có những triệu chứng riêng biệt. Tuy nhiên, tất cả các chứng rối loạn lo âu đều có một điểm chung là sợ hãi hoặc lo âu dai dẳng, quá mức trong những tình huống không đe dọa.
Người bệnh thường gặp một hoặc nhiều triệu chứng sau: sợ hãi, căng thẳng hoặc nóng nảy, bồn chồn hoặc cáu kỉnh, dự đoán điều tồi tệ nhất và đề phòng các dấu hiệu nguy hiểm (13). Căng thẳng - Stress: là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với bất kỳ nhu cầu nào (1). Theo Mental Health Foundation, Căng thẳng là phản ứng của cơ thể đối với áp lực. Nhiều tình huống hoặc sự kiện cuộc sống khác nhau có thể gây ra căng thẳng.
Nó thường được kích hoạt khi con người trải nghiệm điều gì đó mới mẻ, bất ngờ hoặc đe dọa ý thức về bản thân, hoặc khi con người cảm thấy mình có ít khả năng kiểm soát tình huống (14). Căng thẳng trong công việc (căng thẳng nghề nghiệp): Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) Căng thẳng liên quan đến công việc là phản ứng mà mỗi người có thể có khi phải đối mặt với những yêu cầu và áp lực công việc không phù hợp với kiến thức 5 và khả năng của họ và thách thức khả năng đối phó của họ (17). Căng thẳng nghề nghiệp được định nghĩa là sự mất cân bằng giữa yêu cầu và khả năng lao động 1. Một số bộ công cụ sàng lọc sức khỏe tâm thần Perceived Stress Scale- PSS (1983) Perceived Stress Scale (PSS)-thang đo mức độ căng thẳng cảm nhận là công cụ tâm lý được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường mức độ nhận thức về căng thẳng.
Nó là thước đo mức độ mà các tình huống trong cuộc sống của một người được đánh giá là căng thẳng. Các mục được thiết kế để khai thác cách người trả lời không thể đoán trước, không thể kiểm soát và quá tải tìm thấy cuộc sống của họ. PSS10 cho phép đánh giá mức độ căng thẳng mà không làm giảm chất lượng đo lường tâm lý (18). Trong mỗi trường hợp, những người được hỏi được hỏi mức độ thường xuyên họ cảm thấy theo một cách nào đó.
Có bằng chứng chứng minh điểm PSS cao hơn trong các trường hợp (19): • Nghiện thuốc lá • Bệnh nhân tiểu đường không kiểm soát được lượng đường trong máu • Dễ bị tổn thương hơn đối với các triệu chứng trầm cảm do sự kiện cuộc sống gây ra căng thẳng Mối quan hệ tình trạng sức khỏe với PSS: Cohen et al. (1988) cho thấy mối tương quan với PSS và: Các biện pháp căng thẳng, Các biện pháp về sức khỏe và dịch vụ y tế tự báo cáo, Các biện pháp về hành vi sức khỏe, Tình trạng hút thuốc, Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp.H Đào đã dịch PSS-10 sang tiếng Việt và đánh giá phiên bản tiếng Việt của Thang đo ứng suất cảm nhận 10 (V-PSS-10) về tính tương đương của bản dịch, giá trị mặt, hiệu lực cấu trúc, mối tương quan, độ tin cậy nhất quán nội bộ và độ tin cậy kiểm tra lại trong số 473 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên. Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy rằng V-PSS-10 có giá trị và mức độ tin cậy chấp nhận được ở phụ nữ lớn tuổi. V-PSS-10 có thể được sử dụng để đo lường mức độ căng thẳng trong nghiên cứu và thực hành trong tương lai.
Tuy nhiên, nghiên cứu trong tương lai sẽ rất hữu ích để xác nhận thêm tính hợp lệ và độ tin cậy của V-PSS-10 (20). Warwick Edinburgh Mental Wellbeing Scale-WEMWBS (2007) Thang đo sức khỏe tâm thần Warwick-Edinburgh Mental Wellbeing Scale (WEMWBS) được phát triển để cho phép đo lường sức khỏe tâm thần trong dân số nói 6 chung và đánh giá các dự án, chương trình và chính sách nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần. Thang đo 14 mục WEMWBS theo thang điểm 5 (không lúc nào - mọi lúc), sau đó tính tổng một điểm số duy nhất. Tất cả các mục đều được diễn đạt tích cực và bao gồm cả khía cạnh cảm giác và hoạt động của sức khỏe tâm thần, do đó làm cho khái niệm dễ tiếp cận hơn.
Thang điểm đã được sử dụng rộng rãi trong nước và quốc tế để theo dõi, đánh giá các dự án và chương trình và điều tra các yếu tố quyết định sức khỏe tâm thần (21). WEMWBS nhằm mục đích đo lường sức khỏe tâm thần của chính nó chứ không phải các yếu tố quyết định sức khỏe tâm thần, bao gồm khả năng phục hồi, kỹ năng trong mối quan hệ, quản lý xung đột và giải quyết vấn đề, cũng như các yếu tố kinh tế xã hội như nghèo đói, bạo lực gia đình, bắt nạt, thất nghiệp, kỳ thị , phân biệt chủng tộc và các hình thức loại trừ xã hội khác (21). WEMWBS đã được xác nhận cho dân số từ 13-16 tuổi (Clarke và cộng sự , 2010 (24)), sinh viên đại học và dân số nói chung (Tennant và cộng sự , 2007 (23)). WEMWBS cũng đã được xác nhận ở những người dùng chăm sóc sức khỏe tâm thần ở độ tuổi 18+ (Bass, Dawkin, Muncer, Vigurs & Bostock, 2016 (25).
Tại Việt Nam, bảng hỏi WEMWBS hiện chưa được chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi các nghiên cứu trong nước. Patient Health Questionnaire-PHQ-9 Bảng Câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân Patient Health Questionnaire (PHQ-9) là một công cụ sàng lọc tự báo cáo ngắn được sử dụng để đánh giá mức độ trầm cảm ở cả môi trường lâm sàng và cộng đồng. Bảng câu hỏi gồm 9 mục cụ thể dựa trên tiêu chí DSM-IV, và được sử dụng để sàng lọc các triệu chứng trầm cảm và chẩn đoán rối loạn trầm cảm nặng (major depressive disorder - MDD). Điểm cao hơn trong thang PHQ-9 tương ứng với những khó khăn gia tăng trong hoạt động hàng ngày và những ngày ốm.
Đánh giá sau đó được sử dụng để theo dõi mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, những thay đổi và đáp ứng với điều trị theo thời gian. Bảng câu hỏi gồm 9 mục cụ thể dựa trên tiêu chí DSM-IV (Mã phân loại trong Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, Ấn bản thứ 4), và được sử dụng để sàng lọc các triệu chứng trầm cảm và chẩn đoán rối loạn trầm cảm nặng (MDD). 7 Ngoài việc đưa ra các chẩn đoán dựa trên tiêu chí về các rối loạn trầm cảm, PHQ-9 cũng là một thước đo đáng tin cậy và hợp lệ về mức độ trầm cảm. Những đặc điểm này cộng với sự ngắn gọn của nó làm cho PHQ-9 trở thành một công cụ nghiên cứu và lâm sàng hữu ích (26).
Bảng hỏi PHQ-9 đã được chuẩn hóa sang tiếng Việt, Đặng Duy Thanh và cộng sự (2011) thực hiện “Đánh giá sơ bộ giá trị của bảng hỏi sức khỏe bệnh nhân (PHQ-9) trong sàng lọc bệnh nhân trầm cảm” cho biết các câu hỏi của bảng PHQ-9 phiên bản tiếng Việt có độ nhất quán nội tại cao trong việc đánh giá trầm cảm (27). Symptom Checklist-90 -Revised (SCL-90-R, 1994) Symptom Checklist-90-Revised (SCL-90-R) là một bảng câu hỏi tự báo cáo đượca sử dụng rộng rãi để đo lường một loạt các triệu chứng tâm lý và tâm thần được sửa đổi từ Symptom Checklist-90 (1973). SCL-90-R đánh giá 9 khía cạnh triệu chứng: buồn nôn, ám ảnh cưỡng chế, nhạy cảm giữa các cá nhân, trầm cảm, lo lắng, thù địch, lo lắng ám ảnh, ý tưởng hoang tưởng và rối loạn tâm thần, mỗi khía cạnh bao gồm 10 câu hỏi. SCL-90-R giúp đo 9 kích thước triệu chứng chính và được thiết kế để cung cấp cái nhìn tổng quan về các triệu chứng của bệnh nhân và cường độ của chúng tại một thời điểm cụ thể.
SCL-90-R được chuẩn hóa 4 thứ tiếng: Anh, Tây Ban Nha, Pháp và Canada. Beck Anxiety Inventory (BAI) and Beck Depression Inventory (BDI) Thang đo mức độ lo âu Beck Anxiety Inventory (BAI) là một bài tự kiểm tra ngắn gọn được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng lo lắng. Nó bao gồm việc cho điểm chi tiết để giúp xác định liệu các triệu chứng lo lắng biểu hiện của thân chủ nằm trong mức bình thường hay mức độ nghiêm trọng và suy nhược. Thang điểm bao gồm 21 triệu chứng lo âu phổ biến.
Những ví dụ bao gồm: • Tay run • Sợ chết • Đổ mồ hôi nóng / lạnh Những người được hỏi cho biết tần suất mà mỗi triệu chứng đã khiến họ bận tâm trong tháng qua trên thang điểm 4, trong đó 0 là 'hoàn toàn không' và 3 là 'nghiêm trọng - điều đó đã làm phiền tôi rất nhiều.' 8 Thang đo mức độ trầm cảm Beck Depression Inventory (BDI) cũng bao gồm 21 mục và chứa thông tin cho điểm chi tiết để cho biết các triệu chứng ở mức độ bình thường hay mức độ nghiêm trọng. General Health Questionnaire (GHQ) Bảng câu hỏi sức khỏe tổng quát (GHQ) là một công cụ sàng lọc tự báo cáo để xác định các vấn đề sức khỏe tâm thần ngắn hạn, không loạn thần và nhẹ trong dân số nói chung hoặc không lâm sàng. Đánh giá phù hợp với lứa tuổi thanh thiếu niên trở lên. Nó không thích hợp cho trẻ em.
Nó tập trung vào việc sàng lọc 2 lĩnh vực, đó là những khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày, bình thường và / hoặc sự xuất hiện của bất kỳ hoàn cảnh mới hoặc đau khổ nào. GHQ-60: Phiên bản chính của GHQ, được sử dụng để xác định các trường hợp để kiểm tra chuyên sâu hơn (29) GHQ cuối cùng nhằm mục đích xác định bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào giữa trạng thái hiện tại (rối loạn) của người trả lời và trạng thái bình thường của họ.