CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Trầm cảm Trầm cảm là một bệnh rối loạn cảm xúc biểu hiện ở khí sắc trầm tức là có trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán trường, u uất, kéo dài ít nhất hai tuần lễ hay lâu hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc cũng như cuộc sống thường ngày. Người bị trầm cảm cảm thấy mất hứng thú đối với những công việc đã từng mang lại niềm vui thích cho bản thân, cảm thấy tuyệt vọng, có tội lỗi, cảm thấy bi quan, vô tích sự, thiếu tự chủ và đặc biệt là làm cho con người cảm thấy cuộc sống như không đáng sống. Trầm cảm có thể xảy ra với bất kỳ ai, bất kỳ độ tuổi nào, ở mỗi đối tượng khác nhau sẽ có biểu hiện khác nhau [12, 61].
Theo mô tả kinh điển trầm cảm điển hình được biểu hiện bằng sự ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần, bao gồm: cảm xúc bị ức chế, tư duy bị ức chế, vận động bị ức chế [3]. Quan điểm mới nhất về trầm cảm theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) về các rối loạn tâm thần và hành vi, trầm cảm là một hội chứng bệnh lý của cảm xúc biểu hiện đặc trưng bởi: [10] Các triệu chứng chính − Khí sắc trầm. − Mất mọi quan tâm thích thú. − Giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố gắng nhỏ.
Các triệu chứng phổ biến khác − Giảm sút sự tập trung và chú ý. − Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin. 6 − Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng. − Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm và bi quan.
− Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát. − Rối loạn giấc ngủ. Các triệu chứng sinh học của trầm cảm như: sút cân (5% trọng lượng cơ thể trong vòng 4 tuần), giảm dục năng, ít ngủ, thức dậy sớm, sững sờ. Dựa vào các triệu chứng trên TC có thể chia thành 3 mức độ: Mức độ nhẹ (F32-ICD 10): phải có ít nhất 2/3 triệu chứng chính cộng thêm 2/7 triệu chứng phổ biển khác.
Chưa có nhiều trở ngại trong sinh hoạt gia đình, xã hội và nghề nghiệp. Mức độ trung bình ( F32.1 – ICD10): phải có ít nhất 2/3 triệu chứng chính cộng thêm 3/7 triệu chứng phổ biến khác. Có nhiều trở ngại trong sinh hoạt gia đình, xã hội và nghề nghiệp.2 – ICD10): phải có 3/3 triệu chứng chính cộng thếm 4/7 triệu chứng phổ biến khác. Ít có khả năng tiếp tục công việc gia đình, xã hội và nghề nghiệp.
Có triệu chứng sinh học của trầm cảm. Các triệu chứng này tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là 2 tuần liên tục. Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng nhất trong việc chẩn đoán. Những biểu hiện của TC cũng thay đổi hình thái và mức độ theo sự phát triển của từng đối tượng nhất định và phản ứng riêng biệt của từng người.
Ở phụ nữ sau sinh triệu chứng thường có những điểm riêng biệt nổi bật là các biểu hiện khí sắc trầm, luôn cảm thấy buồn chán, có ý nghĩ hủy hoại và các hành vi kích động. Ngoài ra biểu hiện trầm cảm còn mang sắc thái của văn hóa xã hội, truyền thống gia đình họ tộc, lối sống của mọi người trong gia đình. Trầm cảm sau sinh Trầm cảm sau sinh (TCSS) xuất hiện trong vòng 4 tuần đầu sau sinh, có thế kéo dài đến tháng thứ 12 sau sinh nếu không được chẩn đoán và điều trị. TCSS biểu hiện bằng tính khí bất ổn, thường xấu đi vào buổi chiều, đặc trưng bởi sự chán nản, cảm giác bất lực và lo âu về khả năng chăm sóc con của mình, các bà mẹ thường lo lắng, kích thích và hay than phiền đau đầu, đau bụng, khó tiêu, ớn lạnh…tự trách bản thân mình và đôi khi muốn tự tử.
TCSS có thể gặp ở mọi phụ nữ (70% người bị TCSS không có tiền sử bệnh lý tâm thần nào) [24]. Phân biệt trầm cảm sau sinh Hầu hết tất cả phụ nữ sau sinh đều trải qua giai đoạn “Cơn buồn thoáng qua” (Baby Blue) khoảng 70-80% nhưng không phải ai cũng bị TCSS [37, 48]. Baby Blue là một hiện tượng thường gặp nhất sau khi sinh, nó thường xuất hiện vài ngày sau khi sinh, thông thường là ngày thứ 3, thứ 4 với các biểu hiện sản phụ cảm thấy mệt lử, không thể ngủ, cám giác thèm ăn thay đổi, hay cáu gắt, lo lắng mình làm mẹ chưa tốt…mà nguyên nhân chủ yếu là do sự thay đổi hocmon và thay đối tâm lý. Tất cả các biểu hiện của hội chứng Baby Blue rất dễ nhầm với hiện tượng TCSS tuy nhiên điểm khác biệt lớn nhất cần phân biệt đó là hội chứng Baby blue không phải là bệnh lý, nó có thể diễn ra và biến mất trong vòng vài ngày hoặc 2 tuần sau sinh nếu như bà mẹ có chế độ nghỉ ngơi, ăn uống hợp lý và sự hỗ trợ của gia đình… Nếu như các biểu hiện trên kéo dài trên 2 tuần và có xu hướng nặng lên thì bệnh nhân bị TCSS [25, 56].
Tình trạng thiếu máu: Người bệnh biểu hiện mệt mỏi, khí sắc giảm, hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ăn uống kém, ngủ kém, da xanh, niêm mạc nhợt.Xét nghiệm công thức máu giúp chẩn đoán phân biệt tình trạng bệnh lý trên với TCSS. Nguyên nhân của trầm cảm sau sinh Trầm cảm sau sinh gây ra bởi nhiều yếu tố khác nhau trên những phụ nữ có các đặc điểm và hoàn cảnh cũng khác nhau. Đầu tiên phải kể đến là sự thay đổi về nội tiết tố, sau khi sinh việc giảm đột ngột lượng estrogen và progestrogen góp phần khiến hormone tuyến giáp thay đổi nhanh chóng gây ra cảm giác mệt mỏi. Bên cạnh đó, sự 8 thay đổi thể tích máu, huyết áp giảm, sự chuyển hóa trong cơ thể dẫn đến sự thay đổi cảm xúc và dẫn đến chứng trầm cảm.
Ngoài ra các nguyên nhân khác như mâu thuẫn gia đình, giới tính trẻ hay cảm giác lo lắng quá nhiều cũng là yếu tố nguy cơ của căn bệnh này. Cụ thể như một vài vài mâu thuẫn gia đình không được giải quyết triệt để gây ra áp lực, sự mất cân bằng sinh lý đối với phụ nữ và điều này dễ dẫn đến chứng trầm cảm sau sinh. Vấn đề về giới tính của đứa trẻ cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến người phụ nữ mắc chứng trầm cảm sau sinh. Do phải chịu áp lực của gia đình chồng về chuyện sinh con trai nên khi nhìn thấy đứa con mình sinh ra có giới tính không mong muốn, người phụ nữ dễ có tâm lý chán nản, buồn bã…Hay nhiều trường hợp khác các bà mẹ mẹ sinh ra đứa con do không có sự chuẩn bị chu đáo, tất cả những lo lắng về việc chăm sóc con khiến người phụ nữ bị áp lực nặng nề.
Tình trạng này kéo dài khiến người phụ nữ mắc phải chứng trầm cảm. Một số trường hợp khác, nhiều bà mẹ cảm thấy căng thẳng, mất ngủ, lo lắng về khả năng chăm sóc bé. Từ đó cảm thấy mất hứng thú sống và mất kiểm soát cuộc sống bản thân. Cuối cùng không thể không nhắc đến yếu tố di truyền và chế độ dinh dưỡng của phụ nữ sau sinh.
Nếu như gia đình trước đó đã có người bị trầm cảm thì nguy cơ bị trầm cảm sau khi của phụ nữ cũng rất cao. Thêm vào đó do sau khi sinh phải dành nhiều thời gian chăm sóc con nên nhiều chị em phụ nữ không có thời gian chăm sóc bản thân, ngủ không đủ giấc, ăn không đủ chất dinh dưỡng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tình trang bực bội, căng thẳng xuất hiện [7, 9, 11, 62]. Hậu quả và gánh nặng bệnh tật của trầm cảm sau sinh Trầm cảm góp phần không nhỏ vào gánh nặng bệnh tật toàn cầu và ảnh hưởng đến mọi người khắp nơi trên thế giới.
Ngày nay, người ta ước tính có khoảng 350 triệu người mắc phải những triệu chứng trầm cảm và ước chừng 1 triệu người tự tử mỗi năm do chứng bệnh này [60]. Bảng khảo sát sức khỏe tâm thần thế giới thực hiện ở 17 quốc gia cho thấy rằng trung bình cứ 20 người thì có 01 người đã từng trải qua giai đoạn trầm cảm trong năm vừa rồi. Các rối loạn trầm cảm thường bắt đầu ở giai đoạn tuổi trẻ, chúng làm suy giảm các hoạt động chức năng của chúng ta và thường xuất hiện lặp 9 đi, lặp lại. Vì những lý do đó trầm cảm là nguyên nhân hàng đấu thế giới làm mất khả năng hoạt động của con người.
Tổ chức Y tế Thế giới dự báo, đến năm 2020 TC sẽ đứng thứ 2 về gánh nặng bệnh lý của nhân loại sau bệnh tim mạch [1, 6, 60, 61]. Và điều đáng lo ngại nhất của bệnh này là tự tử, có khoảng 15-20% bệnh nhân trầm cảm có ý định tự tử và cứ một người tự tử thành công thì có hơn 20 người khác đang cố gắng kết thúc cuộc sống của mình [13]. Tại Việt Nam, những năm gần đây trầm cảm được biết đến như một “căn bệnh toàn cầu’’, nó được nhắc đến là một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây gánh nặng bệnh tật và tử vong trong nhóm các bệnh không lây nhiễm thông qua báo cáo tổng quan chung của ngành y tế Việt Nam. Theo ước tính của Bộ Y tế, đến năm 2030, trầm cảm sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật ở nước ta.
Tỷ lệ mắc trầm cảm ở một giai đoạn nào đó trong năm là 5,8% nam và 9,5% ở nữ giới. Trầm cảm được đặc biệt chú ý ở giai đoạn phụ nữ sau sinh, trong 10 bà mẹ sau sinh thì có khoảng 1 đến 2 người bị trầm cảm [2]. Tương tự như trầm cảm, TCSS không chỉ gây hậu quả cho chính bản thân người bệnh, ảnh hưởng đến mối quan hệ vợ chồng, mối quan hệ với các thành viên trong gia đình mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đứa con. TCSS nếu không được phát hiện và điều trị thì có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí hằng năm và rất dễ trở thành mãn tính, nguy cơ tái phát cao có hoặc không liên quan đến thời kỳ sinh đẻ.
Bên cạnh ảnh hưởng đến người mẹ, TCSS còn ảnh hưởng trực tiếp lên sự phát triển thể chất và trí tuệ của đứa trẻ [37]. Một số nghiên cứu cho thấy những đứa trẻ có mẹ bị TCSS sẽ kém linh hoạt, giảm chức năng nhận thức ngôn ngữ và có nguy cơ bị còi cọc, thiếu cân hơn gấp 1,5 lần những đứa trẻ khác.