ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn tâm lý (psychological distress - RLTL) là khái niệm được sử dụng rộng rãi như một chỉ báo của sức khỏe tâm thần (SKTT) của cộng đồng trong y tế công cộng và trong các nghiên cứu dịch tễ học (1). Khái niệm này được định nghĩa là một trạng thái cảm xúc được nhận biết bởi những dấu hiệu của trầm cảm (VD: mất hứng thú, buồn bã, mất hy vọng…) và lo âu (VD: cảm thấy bất an, không thể nghỉ ngơi…); những dấu hiệu này có thể biểu hiện thành các vấn đề về thể chất như mất ngủ, đau đầu, thiếu năng lượng…(2). RLTL có thể xuất hiện ở các nhóm xã hội khác nhau và ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ. Tuy nhiên nếu RLTL với cường độ cao và kéo dài hay lặp đi lặp lại nhiều lần làm nảy sinh nhiều vấn đề sức khỏe thể chất hoặc tinh thần (2) .Các vấn đề SKTT chiếm khoảng 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu và đang ngày càng trở nên phổ biến hơn (3).
Các vấn đề SKTT ảnh hưởng đến nhiều nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội, trong đó, sinh viên là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Nghiên cứu về các vấn đề SKTT trên thế giới cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề SKTT (như stress, lo âu, trầm cảm, lạm dụng chất kích thích, rối nhiễu hành vi) trong nhóm người trẻ tuổi rơi vào khoảng 25-75% (4-10). Ở Việt Nam, tỷ lệ thanh niên (trong đó có nhóm sinh viên) có xuất hiện các triệu chứng khác nhau của các vấn đề SKTT khoảng 20 - 60% (11- 15). Đào tạo Y khoa là một hình thức khá đặc thù, ngoài chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học như các trường khác, còn có chức năng trực tiếp tham gia khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Qua đó đòi hỏi cao ở sinh viên về khả năng học tập để sau này có thể thực hành nghề nghiệp chăm sóc sức khỏe người dân tốt hơn. Một chương trình học tập rộng, áp lực học tập cao, khối lượng học tập lớn, kỳ vọng cao, thời gian học tập và làm việc dài, thiếu ngủ, cạnh tranh gay gắt có thể dẫn tới RLTL cho sinh viên (9, 16). Bên cạnh đó thì các vấn đề về kinh tế, xã hội, gia đình, bạn bè và các ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 cũng có thể liên quan tới RLTL. 2 Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa đào tạo khoảng 550 sinh viên Y - Dược mỗi năm cho tỉnh Khánh Hòa và khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Với 7 khoa (hệ cao đẳng chính quy) của trường bao gồm: (1) Khoa Dược; (2) Khoa Điều dưỡng; (3) Khoa Hộ sinh; (4) Khoa Kỹ thuật hình ảnh y học; (5) Khoa Kỹ thuật vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng; (6) Khoa Kỹ thuật phục hình răng; (7) Khoa Kỹ thuật xét nghiệm y học. Ngoài ra còn có liên thông cao đẳng và đại học. Tuy nhiên vài năm trở lại đây nhu cầu của các hệ này thấp dẫn đến lượng sinh viên rất ít. Ngoài chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học như các trường khác, còn có chức năng trực tiếp tham gia khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, chi phí đào tạo cao.
Với chương trình đào tạo ba năm, từ năm thứ hai sinh viên ngoài học lý thuyết tại trường thì còn phải đi thực tập tại các cơ sở y tế, tham gia trực bệnh viên. Với cường độ học tập cao, áp lực thi cử, đồng thời sinh viên phải thích nghi với cuộc sống mới, môi trường học tập mới. Điều này có thể ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tâm lý của sinh viên. Việc xác định tình trạng RLTL ở sinh viên, trên cơ sở đó tìm ra những yếu tố liên quan và đề xuất biện pháp dự phòng giúp sinh viên tránh khỏi các vấn đề SKTT là cần thiết.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Rối loạn tâm lý ở sinh viên chính quy trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa năm 2021 và một số yếu tố liên quan”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng rối loạn tâm lý ở sinh viên chính quy trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa năm 2021. Xác định một số yếu tố liên quan tới rối loạn tâm lý ở sinh viên chính quy trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa năm 2021.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm rối loạn tâm lý (psychological distress) Trong cuộc sống hiện nay thuật ngữ RLTL xuất hiện ngày càng rộng rãi, dưới đây là một số định nghĩa về RLTL. Theo Aline Drapeau và cộng sự (2012), RLTL được định nghĩa là một trạng thái cảm xúc được nhận biết bởi những dấu hiệu của trầm cảm (VD: mất hứng thú, buồn bã, mất hy vọng…) và lo âu (VD: cảm thấy bất an, không thể nghỉ ngơi…); những dấu hiệu này có thể biểu hiện thành các vấn đề về thể chất như mất ngủ, đau đầu, thiếu năng lượng…(2).
Abeloff MD và cộng sự (2000) đã đưa ra khái niệm RLTL: “RLTL đề cập đến khái niệm chung về hoạt động tâm lý không tốt khi đối mặt với các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống” (17). John Mirowsky và Catherine E Ross (2003) cho rằng RLTL là một trạng thái chủ quan khó chịu, có hai dạng chính là trầm cảm và lo âu. Mỗi dạng được thể hiện bằng tâm trạng và trạng thái khó chịu với các triệu chứng thể chất mà con người trải qua (18). Như vậy có thể hiểu một cách chung nhất, RLTL mang một số dấu hiệu đặc trưng của trầm cảm, lo âu và các dấu hiệu này có thể gây ra những khó chịu về thể chất cho cá nhân.
Khái niệm sức khỏe tâm thần (mental health) Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay ốm đau”. Như vậy với định nghĩa này, SKTT là một phần không thể tách rời của sức khỏe nói chung, các vấn đề SKTT xuất hiện phổ biến hơn các bệnh tâm thần. SKTT liên quan chặt chẽ đến sức khỏe thể chất và hành vi của cá nhân (19). WHO cũng định nghĩa SKTT là “Một trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể ứng phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công, có thể đóng góp cho cộng đồng” (19).
Như vậy định nghĩa này có nhấn mạnh tới căng thẳng trong cuộc sống, học tập, làm việc và mối liên quan đến SKTT của mỗi cá nhân. Năm 2012 trong từ điển 5 các thuật ngữ Tâm lý học tác giả Vũ Dũng định nghĩa “SKTT là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có biểu hiện rối loạn về tâm thần, một trạng thái đảm bảo cho sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường” (20). Triệu chứng rối loạn tâm lý Người có biểu hiện RLTL thường cảm thấy đau đầu, mất ngủ, thiếu năng lượng, mất hứng thú, buồn bã tuyệt vọng, bồn chồn, căng thẳng, khó chịu, dễ cáu gắt. Nếu tình trạng RLTL nặng kéo dài sẽ ảnh hưởng tới thể chất hoặc tinh thần, có thể gây ra các bệnh về thần kinh, suy giảm hệ miễn dịch làm cơ thể dễ mắc các bệnh lý khác (2).
Hậu quả của rối loạn tâm lý RLTL kéo dài, không được chữa trị kịp thời sẽ ảnh thưởng tới cuộc sống xã hội và cuộc sống hằng ngày của các cá nhân (21-23). - Bệnh tim mạch: bệnh mạch vành, suy tim. - Bệnh hệ tiêu hóa: biếng ăn, viêm loét dạ dày. - Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, giảm trí nhớ, trầm cảm, lo âu.
- Toàn thân: suy nhược cơ thể, mệt mỏi Tình trạng RLTL kéo dài mà không được chữa trị dẫn tới chất lượng cuốc sống, suy nhược cơ thể, là nguyên nhân gây tử vong trong cộng đồng (24, 25). Nguyên nhân gây ra rối loạn tâm lý Có rất nhiều nguyên nhân gây ra RLTL hiện nay nhưng bao gồm một số nguyên nhân chủ yếu sau (2): - Các đặc điểm cá nhân: Tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng chỗ ở, hôn nhân đổ vỡ, bệnh tật… - Các căng thẳng từ gia đình: Mâu thuẫn các thành viên trong gia đình (bố mẹ cãi nhau, tranh chấp…), tài chính gia đình. 6 - Môi trường xã hội: Các vấn đề an ninh trật tự, kinh tế, chính trị, các mối quan hệ (với bạn bè, xã hội, người thân…), tình trạng thất nghiệp… - Các nguyên nhân từ môi trường học tập, thực tập: áp lực học tập, thành tích, áp lực từ thầy cô, trực bệnh viện … 1. Bộ công cụ đo lường rối loạn tâm lý Trên thế giới hiện nay có khá nhiều bộ công cụ được dùng để sàng lọc các vấn đề SKTT của các nhóm đối tượng khác nhau trong cộng đồng.
Với người trẻ tuổi và sinh viên, có thể kể đến các bộ công cụ như bộ công cụ sàng lọc lo âu, trầm cảm của Beck (Beck Anxiety/Depression Inventory - BAI và BDI) (55), bộ câu hỏi sàng lọc lo âu của Zung (Zung Anxiety Self-Assessment Scale) (56). Tuy nhiên, phổ biến nhất trong các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam có thể kể đến hai bộ công cụ sau: * Thang đo DASS 21 Năm 1995, Lovibond S.F tại Khoa Tâm lý học đại học New South Wales, Australia đã xây dựng nên thang đo đánh giá stress, lo âu và trầm cảm (Depression, Anxiety, Stress DASS 42). Thang đo DASS - 42 có phiên bản rút gọn là DASS - 21 được Viện Sức khỏe tâm thần quốc gia biên dịch và sử dụng như một công cụ sàng lọc bệnh nhân từ năm 1997. Mục đích của thang đo là đánh giá cảm nhận của người bệnh về các dấu hiệu liên quan đến stress, lo âu, trầm cảm.
Qua đó, khuyến cáo họ có chế độ nghỉ ngơi, thư giãn, chăm sóc và điều trị từ các chuyên gia hợp lý. DASS-21 sau này đã được chuẩn hóa tại Việt Nam trên nhóm phụ nữ nông thôn và học sinh trung học phổ thông qua nghiên cứu của Trần Tuấn (2013) và Lê Thị Hồng Minh (2017) (57, 58). Thời gian để đánh giá các biểu hiện về thể chất và tinh thần được mô tả trong thang đo DASS 21 là trong 01 tuần trở lại. DASS-21 gồm 21 tiểu mục chia thành 03 nhóm, mỗi nhóm gồm 07 tiểu mục.
Mỗi tiểu mục là một mô tả về triệu chứng thực thể hoặc tinh thần. Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3 điểm, tùy thuộc mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng. Vì vậy, kết quả thu được chỉ có giá trị ngay thời điểm đánh giá (59).