chương 1. Tóm lại, tổng kết các công trình nghiên cứu về xây dựng thang đo đánh giá nhận thức về trầm cảm và thực trạng nhận thức ở sinh viên của các tác giả trong nước và ngoài nước, có thể rút ra một số điểm như sau: Việc nghiên cứu xây dựng thang đo đánh giá để đánh giá các biểu hiện và mức đọ rối loạn lâm sàn của chứng trầm cảm đã được các nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước quan tâm đến, qua đó việc thừa kế và xây dựng công cụ 25 Tieu luan để đánh giá nhận thức về trầm cảm ở sinh viên về các mặt như biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả và cách thức điều trị trở nên hiệu quả và đáng tin cậy hơn. Nghiên cứu về thức trạng nhận thức của sinh viên về trầm cảm còn khá ít tại Việt Nam. Đa phần các nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung vào việc đánh giá và thống kê thực trạng trầm cảm ở sinh viên nhiều hơn là đánh giá nhận thức về trầm cảm của sinh viên.
Qua phần tổng quát các nghiên cứu trên, cho thấy việc tiến hành nghiên cứu nhận thức của sinh viên về trầm cảm là điều hết sức cần thiết. Theo đó đóng góp không những về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn. Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VỀ HIỆN TƯỢNG TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN. Hiện tượng trầm cảm.
Khái niệm trầm cảm. Theo Tiến sĩ, bác sĩ Hoàng Cẩm Tú: “Trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảm xúc biểu hiện sự buồn rầu chán nản, thất vọng quá mức bình thường làm ức chế toàn bộ các quá trình hoạt động tâm thần. Rối loạn đặc trưng bởi khí sắc trầm, giảm hoặc mất mọi quan tâm thích thú, mất năng lượng, dễ mệt mỏi, hoạt động giảm, khó tập trung chú ý, tư duy chậm, kèm theo mặc cảm tội lỗi, giảm giá trị hoặc hoang tưởng bị tội lỗi, chán đời.và đi kèm theo các triệu chứng cơ thể khác như rối loạn giấc ngủ, ăn.” Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Dung và bác sĩ Nguyễn Văn Siêm đã định nghĩa về trầm cảm như sau: “Trầm cảm là trạng thái giảm khí sắc, giảm năng lượng và giảm hoạt động. Trong các cơn điển hình, có biểu hiện ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần.
Bênh nhân có khí sắc buồn rầu, ủ rũ, giảm hứng thú và quan tâm, cảm giác tương lai ảm đạm, tư duy chậm chạp, liên tưởng khó khăn, tự cho mình là hèn kém, giảm sút lòng tự tin, thường hoang tưởng bị tội, dẫn đến tự sát, giảm vận động, ít nói, thường nằm hoặc ngồi lâu ở một tư thế, kèm theo rối loạn các chức năng sinh học (mất ngủ, chán ăn, mệt mỏi.)” Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng định nghĩa: “Trầm cảm là trạng thái xúc cảm mạnh đặc trung bởi bối cảnh cảm xúc âm tính, bởi những thay đổi của môi trường về những quan điểm của động cơ nhận thức và bởi tính thụ động của hành vi nói chung[9, tr. Theo Bảng phân loại bênh quốc tế (ICD – 10) và Bảng phân loại tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM – IV) thì: “Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm 26 Tieu luan thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần”. Tóm lại, Trầm cảm là một trang thái rối loạn cảm xúc được biểu hiện một cách rõ rệt bởi khí sắc, hành vi, ứng xử thể hiện sự buồn rầu, kèm theo cảm giác chán chường, bi quan thậm chí có ý nghĩ tự sát, ức chế gần như toàn bộ các mạt hoạt động thể chất và tâm lý. Như vậy, trầm cảm là trạng thái giảm khí sắc, giảm năng lượng hoạt động hay nói cách khác đó chính là những biểu hiện đặc trưng là sự thay đổi, rối loạn về khí sắc.
Vì vậy trầm cảm chính là trạng thái rối loạn cảm xúc kéo dài ít nhất là 2 tuần. Gọi “trầm cảm” là “rối loạn trầm cảm” để thể hiện rõ tính chất bệnh lý của trạng thái cảm xúc này. Biểu hiện lâm sàng của trầm cảm. Biểu hiện lầm sàng của bệnh trầm cảm rất đa dạng, phong phú, các triệu chứng của bênh trầm cảm bao gồm: Khí sắc trầm cảm.
Khí sắc trầm cảm (khí sắc giảm) là nét mặt của bênh nhân rất đơn điệu, luôn buồn bã, các nếp nhăn giảm nhiều thậm chí mất hết nếp nhăm. Tình trạng khí sắc giảm rất bền vững do bệnh nhân buồn, bi quan, mất hi vọng. Trong một số trường hợp giai đoạn đầu buồn có thể bị phủ nhận, nhưng có thể biểu hiện khi khỏi bệnh (giảm chú ý, bắt đầu than phiền). Ở một số người họ than phiền rằng không còn nhiệt tình, không còn cảm giác gì, họ luôn ở trong trạng thái lo âu.
Mất hứng thú hoặc sở thích ở hầu hết các hoạt động. Mất hứng thú hoặc sở thích gần như biểu hiện trong mọi mức độ. Các bệnh nhân cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có (tôi không thích cái gì bây giờ cả). Tất cả các sở thích trước đâu của bệnh nhân đều bị ảnh hưởng nặng nề, kể cả ham muốn trầm cảm.
Mất cảm giác ngon miệng, ăn ít hoặc sút cân. Sự ngon miệng thường bị giảm sút, nhiều bệnh nhân họ có cảm giác bị ép phải ăn. Họ ăn rất ít, thậm chí trong các trường hợp bệnh nặng, bệnh nhân nhịn ăn hoàn toàn. Vì vậy bệnh nhân thường sút cân nhanh chóng (có thể sút vài cân trong vòng 1 tháng).
Mất ngủ nhưng có thể bệnh nhân ngủ quá nhiều. Rối loạn giấc ngủ hay gặp nhất trong giai đoạn trầm cảm chú yếu là mất ngủ. Các bệnh nhân thường mất ngủ giữa giấc – tỉnh ngủ vào lúc ban đêm và khó có thể ngủ tiếp. Mất ngủ đầu giấc cũng có thể xuất hiện.
Mất ngủ là triệu chứng gây khó chịu rất nhiều ở bệnh nhân. Rối loạn hoạt động tâm thần vận động. Thay đổi tâm thần vận động bao gồm kích động, vận động chậm chạp (như nói chậm, vận động cơ thể chậm), tăng khoảng nghỉ trước khi trả lời, giọng nói nhỏ, số lượng ít, nội dung nghèo nàn, thậm chí im lặng. Vận động tâm thần chậm cần đủ rõ để những người xung quanh có thể nhận thấy chứ không phải chỉ là cảm giác cơ thể của bệnh nhân.
27 Tieu luan Giảm sút năng lượng. Năng lượng giảm sút, kiệt sức và mệt mỏi là rất hay gặp. Một người có thể than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân cơ thể nào. Thậm chí chỉ với một công việc rất nhẹ nhàng họ cũng cần sự cố gắng lớn, hiệu quả công việc có thể giảm sút.
Ví dụ một người có thể than phiền rằng rửa mặt và mặc quần áo buổi sáng cũng làm họ kiệt sức và họ cần thời gian nhiều hơn người bình thường gấp 2 lần. Cảm giác mệt mỏi thường tăng lên vào buổi sáng và giảm sút một chút vào buổi chiều. Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi. Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi là rất hay gặp trong giai đoạn trầm cảm chủ yếu.
Bệnh nhân cho rằng mình là kẻ vô dụng không làm nên trò trống gì. Họ luôn nghĩ rằng mình là kẻ làm hỏng mọi việc, trở thành gánh nặng cho gia đình, cơ quan và xã hội. Thậm chí bệnh nhân còn có mặc cảm tội lỗi liên quan đến các sai lầm nhỏ trước đây. Nhiều bệnh nhân giải thích một cách sai lầm các hiện tượng thường gặp hàng ngày như là khiếm khuyết của họ.
Bệnh nhân tự trách mình và không thể thành công, không đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp hoặc quan hề với mọi người, không hoàn thành nghĩa vụ với gia đình. Khó suy nghĩ tập trung hoặc ra quyết định. Đây là triệu chứng rất hay gặp khiến bệnh nhân khó chịu và phải đi khám bệnh. Nhiều bệnh nhân than phiền khó suy nghĩ, khó tập trung chú ý vào một việc gì đó bệnh nhân cũng rất khó khăn khi đưa ra quyết định, họ cần phải cân nhắc nhiều thời gian với những việc thông thường.
Khó tập trung chú ý ở bệnh nhân thể hiện ở những việc đơn giản nhất, không thể đọc được một bài báo ngăn, không nghe hết một bài hát mà bệnh nhân vốn rất yêu thích, không thể xem hết một chương trình ti vi mà trước đâu bệnh nhân rất quan tâm. Rối loạn trí nhớ ở bệnh nhân thường là giảm trí nhớ gần. Bệnh nhân có thể quên mình vừa làm gì, trong khi đó, trí nhớ xa (ngày sinh, quê quán, các sự kiện xảy ra lâu trong quá khứ.) thì vẫn được duy trì tương đối tốt trong một thời gian dài. Ý nghĩ muốn chết hoặc hành vi tự sát.
Hầu hết bệnh nhân trầm cảm đều có ý nghĩa về cái chết, nặng hơn là có ý định tự sát hoặc hành vi tự sát. Lúc đầu họ nghĩ bệnh nặng thế này (mất ngủ, chán ăn, sút cân, mệt mỏi.) thì chết mất. Dần bệnh nhân nghĩ rằng chết đi thì sẻ hết đau khổ. Ý nghĩ này biến thành niềm tin rằng những người thân trong gia đình, cơ quan sẻ khá hơn nếu bệnh nhân chết đi.
Từ ý nghĩa tự sát bệnh nhân sẻ có hành vi tự sát. Tự sát có thể gặp ở người bị trầm cảm nhẹ, vừa và nặng. Vì thế không thể chủ quan cho rằng trầm cảm nhẹ thì không cần quan tâm đến ý định tự sát. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng không thể chỉ ra chính xác được bệnh nhân trầm cảm có cố gắng tự sát hay không và khi nào tự sát.
Động cơ tự sát của bệnh nhân là mong muốn cao độ chấm dứt một trạng thái cảm xúc đau khổ, sự tra tấn đang hành hạ bệnh nhân trầm cảm. Các triệu chứng cơ thể. Nhiều bệnh nhân luôn than phiền đau đầu, đau khớp, đau bụng, đau ngực trái.có khi chính các triệu chứng đau này là nguyên 28 Tieu luan nhân khiến bệnh nhân đi khám bệnh. Họ thường đến khám ở bác sĩ chuyên khoa không tâm thần (thần kinh, khớp, tiêu hóa, tim mạch.
Khi không phát hiện được tổn thương và điều trị không kết quả, họ lại tìm đến bác sĩ khác. Quá trình này diễn ra trong nhiều năm khiến bệnh nhân tốn kém nhiều tiền bạc, thời gian và có thể ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe tinh thần. Nguyên nhân trầm cảm. Yếu tố di truyền.
Mặc dù đã có một số bằng chứng phủ định, nhưng người ta vẫn luôn cho rằng yếu tố di truyền có ảnh hưởng đến nguy cơ bị trầm cảm.