Chương I: Cơ sở lý luận về dịch vụ, chất lượng dịch vụ và sự hài long của khách hàng Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Với xu hướng xã hội hóa giáo dục hiện nay cùng với sự đa dạng về loại hình đào tạo đã tạo nên sự cạnh tranh giữa các trường. Dé thu hút người học đòi hỏi các trường không ngừng khẳng định mình qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo, đáp ứng sự kỳ vọng của người học. Trong đó Sự hài lòng của sinh viên được xem như sự đánh giá tích cực của họ về các dịch vụ được cung cấp bởi nhà trường nơi họ đang theo học.
Đặc biệt là chất lượng dịch vụ đào tạo. Vậy: - Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa sẽ làm gì để đáp ứng sự kỳ vọng đó? ~ Mô hình nào là phù hợp cho việc nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên tại trường? ~ Thang đo nào sẽ được thiết lập? - Các nhân tố nào quyết định sự hài lòng đối với chất lượng dịch vụ đào tạo? Đó là những câu hỏi mà tác giả cần phải nghiên cứu để thực hiện đề tài Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tham khảo một số tài liệu liên quan trong và ngoài nước như sau: * Các mô hình nghiên cứu trên thế giới Sherry, Bhat, Beaver & Ling (2004), c6 bai nghién ciru “Students as customers: The expectations and perceptions of local and international students”. Tac gia da tién hanh đo lường sự ky vọng và cảm nhận của sinh viên bản xứ và sinh viên nước ngoài tại Học viện Công nghệ UNITEC, Auckland, New Zealand với thang đo SERVQUAL 5 thành phần (phương tiện hữu hình, mức độ tin cậy, sự đáp ứng, năng lực phục vụ và mức độ cảm thông) với 20 biến quan sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo đạt độ tin cây và giá trị tốt với 5 thành phần phân biệt như nguyên thủy, tất cả các khoảng cách giữa cảm nhận và kỳ vọng của 5 thành phần đều âm và có ý nghĩa.
Điều này cũng có nghĩa Học viện UNITEC còn nhiều việc phải làm dé nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo. Trong khi chất lượng kỳ vọng của sinh viên trong nước và bản xứ khác nhau không đáng kể, thì chất lượng cảm nhận của sinh viên nước ngoài thấp hơn nhiều. Do đó, sinh viên nước ngoài có khoảng cách cảm nhận - kỳ vọng lớn hơn. Trong đó, khoảng cách đáng kể nhất là thuộc về các thành phần Cảm thông, Năng lực phục vụ và Khả năng, đáp ứng.
Chua (2004), c6 bai nghién citu “Perception of Quality in Higher Edueation ”. Tác giả đã nghiên cứu đánh giá chất lượng giáo dục đại học theo. nhiều quan điểm khác nhau: sinh viên, phụ huynh, giảng viên và người sử dụng lao động. Kết quả cho thấy trong hầu hết các thành phần của thang đo.
SERVQUAL, ¡ tượng sinh viên, phụ huynh và người sử dụng lao động đều kỳ vọng cao hơn những gì họ nhận được. Riêng đối với giảng viên, sự khác biệt iữa cảm nhận và kỳ vọng xuất hiện ở thành phần phương tiện hữu hình và sự đảm bảo. Kích thước mẫu của nghiên cứu này là không lớn lắm: sinh viên — 35 người, phụ huynh - 27 người, giảng viên — 10 người, người sử dụng lao động — 12 người Poh Ju Peng va Aino. Samah (2006), c bai nghién ctu “Measuring student's satisfaction for quality education in a e-learning university”.
Tác giả đã thiết kế đo lường sự hài lòng về chất lượng dịch vụ tại trường đại học Tun Abdul Razak, Malaysia. Tác giả đã đưa ra mô hình nghiên cứu gồm 7 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đó là: Cơ sở vật chất, nội dung khóa học, phương pháp giảng dạy, mối quan tâm của sinh viên, sự đánh giá, hoạt động xã hội và giảng viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 nhân tố: Cơ sở vật chất, nội dung khóa học, giảng viên tác động đến sự hài lòng của sinh viên. Trong đó, nội dung khóa học là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng của sinh viên và giảng viên là nhân tố có mức tác động thấp nhất đến sự hài lòng của sinh viên.
Bebos (2007), có bai nghién ciru “Measuring student satisfaction with their studies in an International and European Studies department”. Tac gia cho rang su hai long cua sinh vién vé khéa hoc là rất quan trọng và sự hài lòng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chương. trình đào tạo, các môn học được giảng dạy, đội ngũ giảng viên, giáo trình, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm trí tuệ mà cơ sở giáo dục cung cấp cho sinh viên. Để đánh giá sự hài lòng của sinh viên tác giả đã sử dụng phương pháp MUSA bao gồm 4 tiêu chí: giáo dục, hỗ trợ hành chính, hữu hình, hình ảnh và danh tiếng.
Qua kết quả đo lường cho thấy các tiêu chí đều được đánh giá rất cao, với tiêu chí cao nhất là giáo dục. * Các mô hình nghiên cứu ở Việt Nam Nguyễn Thành Long (2006), có bài nghiên cứu “Sứ đựng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đào tạo ĐH tại trường ĐHAG”. Nghiên cứu đã sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ đảo tạo tại trường Đại học An Giang, từ năm thành phần của chất lượng dịch vụ ban đầu theo thang đo SERVPERF là: Phương tiện hữu hình, tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ và sự cảm thông. Và mô hình sau khi hiệu chỉnh gồm các thành phai : Giảng viên, Nhân viên, Cơ swor vật chất, Tin cậy và Cảm thông sẽ ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Nghiên cứu được thực hiện qua 2 bước nghiên cứu thử và chính thức trên 635 sinh viên của 4 Khoa: Sư phạm, Nông nghiệp - Tài nguyên thiên nhiên, Kỹ thuật ~ Công nghệ môi trường và Kinh tế - Quản trị kinh doanh của Trwnf Đại học An Giang.
Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy sự hài lòng của sinh viên phụ thuộc vào thành phần Giảng viên, Cơ sở vật chất, Tin cậy và Cảm thông. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ đào tạo được đánh giá không cao. Trong 5 thành phần chỉ có 2 thành phân trên trung bình là Giảng viên (3.45) và sự tin cậy vào nhà trường (3.27), 3 thành phần còn lại là Nhân viên, cơ sở vật chất và cảm thông của nhà trường thấp hơn trung bình và xấp xỉ nhau (2. Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự đánh khác nhau theo khoa đối với các thành phần trên (trường cơ sở vật chất) và có sự đánh giá khác nhau theo năm học, cụ thê là sinh viên học càng nhiều năm càng đánh giá thấp chất lượng dịch vụ của nhà trường.
Tương tự như chất lượng dịch vụ đảo tọa, mức độ hài lòng của sinh viên đối với Đại học An Giang còn chưa cao. Sự hài lòng của sinh viên tập trung và thành phần Giảng viên và Cơ sở vật chất, các thành phần còn lại có tác động không lớn đến sự hài lòng. Nghiên cứu này cũng trình bày một số hạn chế như sau: Việc lấy mẫu ngẫu nhiên theo đơn vị lớp ở các Khoa có thể làm cho tính đại diện của kết quả không cao, chưa có sự phân biệt về giảng viên hữu cơ và giảng viên thỉnh giảng trong đánh giá của sinh viên do đó không xác định được nhận định của sinh viên đối với giảng viên của nhà trường và nghiên cứu chỉ dừng việc đo lường, tìm hiểu các môi quan hệ và đưa ra một số gợi ý để lý giải mà chưa có sự phân tích sâu. Nguyễn Trần Thanh Bình (2008), trong đề tài “Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ đào tạo và sự hài lòng của sinh viên trường ĐH Công Nghệ Sài Gòn” đã xây dựng thang đo gồm 3 nhân tố: độ tin cậy, sự đáp ứng và môi trường giảng dạy.
Thang đo đạt độ tin cậy và giá trị cho phép. Tuy nhiên kết quả kiểm định mô hình và thông qua phân tích hồi quy tuyến tính đa bội, có hai nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đó là sự đáp ứng và môi trường giảng dạy. Về mức độ ảnh hưởng, nhân tố môi trường giảng dạy ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên nhiều hơn nhân tố sự đáp ứng và cả hai nhân tố này đều bị đánh giá với điểm số khá thấp. Chính vì thế cần phải tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp để cải tiến hai nhân tố này từ đó làm tăng sự hài lòng của sinh viên.
Nguyễn Thị Thắm (2008), có bài nghiên cứu “Khảo sát sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tao tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ”. Từ kết quả nghiên cứu đã cho thấy sinh viên có sự hài lòng cao đối với hoạt động đào tạo của nhà trường. Sự hài lòng phụ thuộc vào 6 nhân tố theo mức độ ảnh hưởng giảm dẫn: Sự phủ hợp và mức độ đáp ứng của chương trình đảo tạo, trình độ và sự tận tâm của giảng viên, kỹ năng chung mà sinh viên đạt được sau khóa học, mức độ. đáp ứng từ phía nhà trường, trang thiết bị phục vụ học tập, điều kiện học tập.
Đỗ Đăng Bảo Linh (2011), có bài nghiên cứu “Các nhân tố của chất lượng dịch vụ đào tạo ảnh hưởng đến sự hài lòng của học viên tại các trưởng trung cấp chuyên nghiệp: Địa bàn tỉnh Đồng Nai”. Nghiên cứu đã sử dụng thang đo SERVPERF gồm 5 thành phần: Phương tiện hữu hình, tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ và mức độ cảm thông. Kết quả nghiên cứu đã rút ra có 4 thành phần cơ bản tác động đến sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ đào tạo của nhà trường bao gồm: Môi trường học tập, phương tiện hữu hình, giảng viên, nhân viên Một nghiên cứu khác của Trần Xuân Kiên, có bài nghiên cứu “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên”. Nghiên cứu đã dựa vào thang đo SERVQUAL bao gồm 5 thành phần: Cơ sở vật chất, sự nhiệt tình của cán bộ và giảng viên, đội ngũ giảng viên, khả năng thực hiện cam kết, sự quan tâm của nhà trường tới sinh viên để xác định sự hài lòng của sinh viên Kết quả cho thấy sự hài lòng của sinh viên phụ thuộc vào 5 thành phân trên với sự phù hợp giữa mô hình và dữ liệu là 87.1% Kết luận: Như trên đã trình bày, mô hình 5 thành phần của thang đo.