đặt vấn đề nghiên cứu, hình dung rất rõ sẽ phải trả lời câu hỏi nào trong nghiên cứu. Biết đưa ra luận điểm khoa học của mình, chính là luận điểm về giải quyết vấn đề đã đặt ra ở trên. Biết đưa ra nhiều loại luận cứ để chứng minh luận điểm của mình. 15 z Biết sử dụng nhiều phương pháp thích hợp khác nhau để tìm kiếm và chứng minh luận cứ và sử dụng hệ thống luận cứ để chứng minh luận điểm khoa học của mình.
Hoạt động đào tạo Trên thế giới hiện nay, khi nhiều nước chuyển sang nền kinh tế dịch vụ hậu công nghiệp, giáo dục đại học càng trở nên quan trọng khi nó được coi là nền móng của kinh tế tri thức thế kỷ XXI. Vai trò của giáo dục đại học vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế này cũng như đối với những biến đổi xã hội. Các trường đại học là những cơ quan trọng yếu nối kết thông tin, đào tạo và nghiên cứu. Hơn nữa, trường đại học là nơi giao tiếp về khoa học và công nghệ giữa các quốc gia khác nhau và các nền học thuật trên thế giới đang có mối liên hệ ngày càng tăng với các nền kinh tế.
Giáo dục đại học đang thực hiện những chức năng cụ thể sau: [22] Đào tạo: Các nền kinh tế tri thức cần nhân sự có kỹ năng ở mọi trình độ và với số lượng ngày càng nhiều. Công nghệ đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu, và điều này quan trọng không kém, kỹ năng thích nghi với những thay đổi công nghệ đang diễn ra với tốc độ rất nhanh. Trường đại học và các trường nghề sau trung học cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo này. Các trường đại học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra những nhà khoa học hàng đầu trong lực lượng nghiên cứu, cũng như trong việc tạo ra những người lao động trình độ cao vô cùng cần thiết đối với nền kinh tế mới.
Nghiên cứu: Trường đại học cung cấp những nghiên cứu cơ bản và ứng dụng cần thiết cho nền kinh tế tri thức. Mối liên hệ giữa trường đại học và công nghiệp sản xuất cũng như những liên quan về mặt khoa học trong lĩnh vực công nghệ sinh học và những lĩnh vực khác đã cho thấy giá trị và 16 z sự liên quan mật thiết giữa nghiên cứu và đời sống. Sản phẩm mà các trường đại học tạo ra đã làm tăng một cách đáng kể những phương tiện cải thiện nền kinh tế. Truyền thông: Đối với cộng đồng học thuật, các trường đại học không chỉ liên quan đến truyền thông tri thức, mà còn là những mắt xích trọng yếu đối với việc tiếp thu và truyền đạt tri thức, đồng thời tiếp nhận chuyển giao tri thức từ cộng động khoa học quốc tế.
Cải cách: Trường đại học tập hợp các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực chuyên môn trong một môi trường ngày càng nhấn mạnh tư duy liên ngành. Những trường đại học tốt nhất bao giờ cũng khuyến khích những hoạt động nghiên cứu và triển khai có tính chất liên ngành và đổi mới. Diễn đàn văn hoá và xã hội: Vai trò của trường đại học như một diễn đàn thảo luận về đời sống trí tuệ, chính trị và văn hoá thường là chưa được coi trọng ngang bằng vai trò của nó trong khoa học ở thế kỷ XXI. Là nơi lưu trữ tri thức cho toàn xã hội: Trường đại học, thông qua các thư viện, bảo tàng, cùng các khoa và chương trình đào tạo, đóng góp to lớn vào việc sáng tạo và diễn giải các nền văn hoá cũng như lưu giữ các thành tựu của loài người.
Một số nơi trên thế giới, như ở các nước đang phát triển, khi các nhà văn hoá, nhà bảo tàng còn ít ỏi, vai trò của trường đại học trong vấn đề này càng đặc biệt quan trọng. Để thực hiện tốt các chức năng trên, hệ thống giáo dục đại học phát triển theo những đặc trưng đa dạng, thực tiễn và chất lượng cao. Theo xu hướng xã hội hoá giáo dục này, hệ thống giáo dục đại học có những đặc trưng sau: [10] 17 z 1. Số lượng các trường đại học và cao đẳng nhiều và đa dạng.
Các trường đại học khác nhau về nhiều tiêu chí: Cơ quan trợ cấp (Chính phủ, tư nhân,.); Loại bằng cấp đào tạo (Tiến sĩ, Thạc sĩ, cử nhân, cao đẳng); Tính đa ngành của Chương trình (đơn ngành, đa ngành, đa lĩnh vực); Chức năng (giáo dục, nghiên cứu, dịch vụ). Các trường đại học cũng rất khác nhau về sứ mệnh, mục tiêu và qui mô để đáp ứng nhu cầu rất đa dạng và ngày càng cao của xã hội học tập về nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Các trường đại học toàn diện có qui mô lớn (hàng vạn sinh viên, hàng trăm mã ngành đào tạo), các trường đơn ngành thường có qui mô nhỏ; về bậc đào tạo: có trường chỉ đào tạo bậc đại học, có trường đào tạo bậc thạc sĩ và có trường đào tạo cả bậc tiến sĩ; có trường tập trung tại một địa điểm, có trường gồm nhiều địa điểm khác nhau. Tuy nhiên bao giờ cũng có một tỷ lệ nhất định các đại học nghiên cứu chất lượng cao để đào tạo tinh hoa, tài năng (nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế tri thức).
Các trường đại học có tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao, các trường gần như tự quyết định mọi hoạt động của nhà trường. Các trường đại học là nơi giao thoa của ba chức năng: Đào tạo, Nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội, sự kết hợp chặt chẽ ba chức năng này hiện nay cũng là xu hướng cơ bản trong chiến lược phát triển giáo dục đại học của các nước trên thế giới. Các trường đại học không chỉ là trung tâm đào tạo mà thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu khoa học, sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới hiện đại. Trong đó, nghiên cứu khoa học và phục vụ thực tiễn vừa là phương tiện (học qua nghiên cứu), vừa là mục đích (học cho nghiên cứu) vừa là động lực để đào tạo, nhất là đào 18 z tạo chất lượng cao.
Nói một cách khác, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội là yếu tố quyết định nhất tới chất lượng đào tạo. Vì vậy, liên kết với các doanh nghiệp, với sản xuất (theo công thức: Nhà nước - Đại học – Cộng đồng – Doanh nghiệp) là xu hướng ngày một phát triển. Các trường đại học có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động khoa học và công nghệ của đất nước với ba thế mạnh: Tiềm năng to lớn về chất xám của đội ngũ cán bộ; Lực lượng hùng hậu sẵn sàng triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học; Tạo ra hiệu quả kép (sản phẩm khoa học và công nghệ và sản phẩm đào tạo). Các trường đại học có giải pháp phù hợp để hạ thấp quy mô đào tạo đại học, nâng cao dần quy mô đào tạo sau đại học; giảm dần tỷ lệ giữa sinh viên và giảng viên để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu trong đội ngũ giảng viên (tỷ lệ này ở các trường đại học của nước ta là 2530/1; ở Đại học Quốc gia Hà Nội là 23/1; trên thế giới tỷ lệ này là 10-15 sinh viên/1 giáo viên).
Các trường Đại học là nơi tập hợp đội ngũ các nhà khoa học, các giáo sư đầu ngành. Đối với các cán bộ giảng dạy đại học, bên cạnh hoạt động đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học – dịch vụ là hoạt động bắt buộc. Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, đội ngũ cán bộ giảng dạy luôn cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ, cũng như học vị, học hàm. Tỷ lệ thời gian dành cho các hoạt động này khác nhau tùy loại trường.
Hiện nay, ở nước ta tỷ lệ giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ là 7/2/1; trong khi đó, tại các trường đại học trên thế giới tỷ lệ 19 z này phổ biến là 5/4/1; còn đối với các trường Đại học nghiên cứu, tỷ lệ này là 2/6/2. Kinh phí dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học là tương đối lớn và đa dạng. Năng lực đào tạo 4. Nguồn nhân lực Đó là đội ngũ giảng viên có đủ năng lực để truyền đạt, trang bị cho sinh viên những tri thức cơ bản và cập nhật.
Vật lực Các đơn vị đào tạo có đủ cơ sở các phòng thí nghiệm được trang bị máy móc, thiết bị hiện đại, cùng với tiềm lực tài chính, kết cấu cơ sở hạ tầng và tiềm lực về thông tin. Quan hệ giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo Đào tạo và nghiên cứu khoa học là hai hoạt động hết sức cơ bản trong trường đại học, hai hoạt động này luôn có mối quan hệ tương hỗ trong công tác đào tạo tại trường đại học. Sự kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học là tiền đề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Nghiên cứu khoa học được quan niệm là một chức năng đặc trưng của hệ thống giáo dục đào tạo.
Một văn bằng đại học ở nước ngoài được định nghĩa khái quát như sau: Văn bằng đại học là cái được cấp để công nhận việc hoàn thành một chương trình học có trình độ cao: được giảng dạy chủ yếu bởi những người có nghiên cứu khoa học và được trang bị những 20 z nguyên lý chung và kiến thức cơ bản, là cơ sở để làm việc và học tập một cách chủ động. [9] Hiện nay, trên thực tế, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam có chức năng chủ yếu là đào tạo. Chức năng nghiên cứu nằm ở hệ thống các viện thuộc hai Trung tâm Khoa học Quốc gia. Vị trí của nghiên cứu khoa học trong các trường đại học ở nước ta hầu như được đặt ở mức rất khiêm tốn so với các viện nghiên cứu.
Rất nhiều nhà khoa học Việt Nam đang làm việc ở các trường đại học ở nước ngoài, khi về làm việc ở trong nước cũng đều có nhận xét chung như vậy. Có thể kể đến, giáo sư Bùi Trọng Liễu (Đại học Paris V), giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Ohio) và gần đây là giáo sư Vũ Quốc Phóng (Đại học Ohio), các tác giả có nhiều bài đăng trên báo chí trong nước đóng góp ý kiến về chính sách đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học.