Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÌNH HUỐNG 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU, CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Sự thay đổi chóng mặt của khoa học kỹ thuật ngày nay đặt ra cho giáo dục những nhiệm vụ mới trong việc xây dựng mô hình nhân cách phù hợp, đáp ứng sự thay đổi của xã hội theo chiều hướng phát triển tích cực. Đặc trưng của mô hình nhân cách mới đó chính là sự năng động, tích cực, độc lập, sáng tạo, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề. Phương pháp dạy học truyền thống không còn phù hợp, phương pháp dạy học hiện đại theo xu hướng đổi mới, kế thừa, phát triển những mặt tích cực của những hương pháp dạy học truyền thống kết hợp với tham khảo, cải tiến dựa trên những phương pháp mới của giáo dục thế giới được hình thành.
Tiếp cận theo xu hướng hiện đại, phương pháp dạy học được thực hiện tập trung vào người học và mối quan hệ cộng tác giữa giáo viên và người học theo hướng công nghệ hóa, cá nhân hóa, tích cực hóa quá trình dạy học. Nhiều lý thuyết dạy học ra đời như giáo dục cộng tác, giáo dục tích cực, giáo dục tự chủ… Mỗi lý thuyết dạy học đều tiếp cận quá trình dạy học ở một khía cạnh khác nhau nhưng đều nhằm mục đích chung là phát huy tối đa khả năng của học sinh. Theo ý kiến của các chuyên gia giáo dục hàng đầu Việt Nam, phương pháp dạy học là một nhân tố cần được xem xét, đổi mới, đòi hỏi phải trở thành một cuộc cách mạng trong nhà trường. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học được xác định cụ thể trong Nghị quyết TW4 khóa VII (tháng 01/1993), Nghị quyết TW2 khóa VIII (tháng 12/1996) “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học.
Luan van Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học” [24], trong Luật Giáo dục (điều 24.2): “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc diểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[23] Phương pháp dạy học tình huống được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết tình huống. Mỗi lý thuyết dạy học bao giờ cũng xuất phát từ một thuyết Tâm lý học. Với đề tài này, lý thuyết tình huống dựa trên mô hình lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget – nhà Tâm lý học người Áo. Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang – dựa trên thuyết nhận thức của Jean Piaget đã nhận định: con người ngay từ lúc ấu thơ là người tạo ý nghĩa độc lập, tích cực và sẽ thiết kế tri thức hơn là tiếp nhận tri thức.
Con người kiến thiết tri thức thông qua hai quá trình là “Đồng hóa” và “Điều ứng”. Đồng hóa là quá trình mà nhờ đó người học kết nối. Điều ứng là quá trình mà nhờ đó người học thích ứng. Học tập là một quá trình thật sự tích cực của đồng hóa và điều ứng.
Qúa trình đó không phụ thuộc vào người lớn (giáo viên) – họ chỉ là người tạo nên “cú hích đầu tiên” cho quá trình tiếp nhận tri thức đó.[18] Từ những tư tưởng này, các nhà Lý luận dạy học đã đưa lý thuyết dạy học tình huống vào thực tế giáo dục. Trên thế giới, lý thuyết dạy học tình huống đã được nghiên cứu từ những năm 70, 80 của thế kỷ XX ở phương Tây – đứng đầu là Guy Brousseau (nhà Lý luận dạy học người Pháp) – được du nhập vào Việt Nam những năm 1990. Những tư tưởng về lý thuyết tình huống dạy học này của Guy Brousseau đã được dịch giả Nguyễn Bá Kim dịch và đưa vào chương trình đào tạo giáo viên ở nhiều trường Sư phạm ở nội dung bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên giai đoạn 1993 – 1996. Song chủ yếu những tư tưởng này chỉ được bồi dưỡng cho giáo viên Luan van dạy Toán của các trường phổ thông chứ chưa được nhân ra rộng rãi cho giáo viên các cấp khác.
Xét thấy lý thuyết dạy học tình huống có nhiều ưu điểm và có thể định hướng đổi mới phương pháp dạy học tích cực hóa hoạt động học tập của người học nên sau đó, nó không chỉ ứng dụng trong dạy học môn Toán ở Phổ thông mà còn ứng dụng ở nhiều môn học khác với các bậc học khác. Tình huống dạy học là một khái niệm cốt lõi của lý thuyết tình huống được nhiều tác giả quan tâm và có mong muốn vận dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học. Dịch giả Nguyễn Bá Kim đã giới thiệu tóm tắt ba nội dung cơ bản về lý thuyết tình huống trong giáo trình “Phương pháp dạy học Toán học tập 1” như sau: Hệ thống dạy học tối thiểu; tình huống học tập lý tưởng và tình huống dạy học; Khái niệm chướng ngại [22]. Từ đó tác giả đã rút ra 10 kết luận sư phạm trong việc ứng dụng lý thuyết tình huống vào dạy học môn Toán.
Tuy nhiên, bởi đặc thù riêng của ngành Toán nên những quan điểm này mới chỉ gói gọn trong môn Toán, chỉ một số trong đó có tính chất ứng dụng chung cho mọi môn học song nó cũng tạo cơ sở nền tảng để triển khai và ứng dụng bước đầu cho những môn học khác. Ngoài ra còn có một tài liệu nói về lý thuyết tình huống – đó là “Tiếp cận nền kinh tế tri thức thế kỷ 21 – phương pháp giải quyết vấn đề - phương pháp xử lý tình huống hành động. Dạy học – nghiên cứu – quản lý – lãnh đạo” (2001) của Trần Văn Hà và Nguyễn Khánh Quắc [19]. Tác giả đã trình bày các khái niệm: Vấn đề, tình huống, tình huống có vấn đề, lý thuyết tình huống; bốn giai đoạn của phương pháp xử lý tình huống hành động (điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp); quy trình ra quyết định để xử lý tình huống quan trọng.
Trong đó tác giả đã chỉ ra phạm vi ứng dụng ở nhiều lĩnh vực của phương pháp xử lý tình huống hành động: dạy học – nghiên cứu – quản lý – lãnh đạo. Trong báo cáo, tác giả nêu ra quy trình gồm ba công đoạn để dạy một tiết học theo phương pháp tình huống – đó là: giới thiệu lý thuyết và nguyên tắc cơ bản, tài liệu, sách mà học sinh cần đọc (chiếm 50% thời lượng); giới thiệu tình huống và nghiên cứu tình huống theo cá nhân hoặc nhóm (chiếm 40% thời lượng); giáo viên tổng kết tranh luận, củng cố Luan van nâng cao (chiếm 10% thời lượng). Ở đây tác giả cũng trình bày về sự cần thiết của một ngân quỹ tình huống liên quan đến nội dung bài giảng và quy trình chuẩn bị tình huống là: Xác định rõ mục tiêu yêu cầu của bài học; dành thời gian cho việc thu thập thông tin mới, tìm kiếm những tình huống mới có vấn đề trong đời sống, sách báo; nghiên cứu, thảo luận và tìm ra phương án tối ưu mang tính hấp dẫn học sinh. Qua báo cáo này, tác giả đã đưa ra quy trình khái quát xây dựng tình huống cho các nội dung môn học.
Đặc biệt tác giả đã có công sưu tầm, xây dựng 2500 tình huống và thực nghiệm giảng dạy ở trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, trường Nông nghiệp I Hà Nội và một số trường khác trong nước. Trong tài liệu “Dạy học hiện đại – lý luận, biện pháp, kỹ thuật” của tác giả Đặng Thành Hưng [21] đã trình bày khá toàn diện và sâu sắc quá trình dạy học hiện đại, về phương pháp dạy học tiếp cận ở các góc độ: lý luận, biện pháp, kỹ thuật. Tác giả cũng đề cập rất cụ thể tính vấn đề của dạy học, sự khác biệt giữa tình huống dạy học và tình huống có vấn đề, năm kiểu học và năm kiểu dạy học tương ứng. Cuối cùng là tài liệu “Lý luận dạy học hiện đại – cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học học” của Nguyễn Văn Cường và Bern Meyer [3; tr.113] có đề cập đến dạy học tình huống như một quan điểm dạy học hơn là một phương pháp dạy học.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Phương pháp dạy học 1. Phương pháp Theo từ điển Tiếng Việt, phương pháp là lề lối và cách thức phải theo để tiến hành công tác với kết quả tốt nhất[28] Hoặc có quan điểm cho rằng phương pháp là cách thức nghiên cứu và nhìn nhận các hiện tượng của đời sống tự nhiên và xã hội, là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó[25] Tóm lại, phương pháp là cách thức thực hiện hoạt động nhất định nhằm đạt được kết quả cao nhất. Phương pháp dạy học a.
Định nghĩa Theo quan điểm của Nguyễn Văn Cường, khái niệm của phương pháp dạy học ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là các phương pháp dạy học cụ thể, các mô hình hành động. Đó là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên và người học nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với nội dung và những điều kiện dạy học cụ thể [3; tr.117] Theo quan điểm của, phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên để tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của người học, nhằm đảm bảo cho người học lĩnh hội nội dung dạy học và chính nhờ vậy mà đạt được những mục tiêu dạy học[1; tr. Phân loại Gồm ba nhóm phương pháp lớn: Phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động nhận thức, học tập; Phương pháp kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động nhận thức, học tập; Phương pháp kích thích và hình thành động cơ nhận thức, học tập. Trong đó nhóm phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động nhận thức, học tập lại bao gồm ba nhóm phương pháp cụ thể: (1) Nhóm phương pháp dùng lời: gồm phương pháp thuyết trình; phương pháp vấn đáp (đàm thoại) (2) Nhóm phương pháp trực quan (3) Nhóm phương pháp dạy học thực hành: gồm phương pháp ôn tập; phương pháp luyện tập; phương pháp công tác độc lập; phương pháp dạy học tình huống.