Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng HĐGD của GV Chƣơng 2: Chất lượng HĐGD của GV và sự khác biệt giữa GV và SV trong đánh giá chất lượng HĐGD của GV tại Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc – Quảng Ninh Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng HĐGD của GV tại Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc – Quảng Ninh Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 13 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG HĐGD CỦA GIẢNG VIÊN 1. Tổng quan HĐGD là sự điểu khiển tối ưu hóa quá trình SV chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng và thái độ công dân, qua đó phát triển và hình thành nhân cách. HĐGD và học tập có những mục đích cụ thể khác nhau.
Nếu hoạt động học tập nhằm vào việc chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng và thái độ công dân thì HĐGD lại có mục đích là điều khiển sự học tập. Trên thế giới, việc đánh giá HĐGD của GV trong các trường đại học và cao đẳng đã có lịch sử lâu đời. Theo Rashdall (1936) [33] và Centra (1993) [26], vào thời kỳ Trung cổ ở Châu Âu, các trường đại học đã dựa vào SV để kiểm tra và đánh giá hoạt động của GV. Cũng theo Centra (1993), đến thời kỳ thực dân vào thế kỷ 16 và 17 trong các trường đại học và cao đẳng ở Châu Âu, việc đánh giá hoạt động của GV đã được thực hiện bởi đại diện Hội đồng quản trị và Hiệu trưởng thông qua việc dự giờ quan sát GV đặt câu hỏi kiểm tra kiến thức cả năm học của SV.
Tuy nhiên, cách đánh giá này không thực sự hiệu quả trong việc đánh giá kiến thức SV tích lũy được trong một năm và cũng không thể đánh giá được hiệu quả giảng dạy của GV. Từ những năm 1925 trở lại đây, việc đánh giá HĐGD của GV đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Năm 1927, Herman Remmers và các cộng sự của ông tại Đại học Purdue đã công bố Bảng đánh giá chuẩn đã được kiểm nghiệm dùng cho SV đánh giá GV [34]. Những năm 60 của thế kỷ trước, GV của các trường đại học và cao đẳng đã nhận thức rõ mục đích và ý nghĩa của các Bảng đánh giá giảng dạy và đã tình nguyện sử dụng Bảng đánh giá chuẩn với mục đích cải tiến và điều chỉnh HĐGD của mình trên cơ sở phân tích các kết quả thu được từ các Bảng đánh giá.
Nghiên cứu của Centra (1979) đã cho thấy vào cuối những năm 70 của thế kỷ 20 hầu hết các trường đại học ở Châu Âu và ở Mỹ đã sử dụng 3 phương pháp đánh giá hiệu quả của HĐGD của GV: Đồng nghiệp đánh giá, Chủ nhiệm khoa đánh giá và 14 z SV đánh giá, trong đó các thông tin thu thập được từ Bảng đánh giá của SV được công nhận là quan trong nhất [25]. Từ những năm 1980 đến nay, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm hơn về các phương pháp đánh giá hiệu quả HĐGD và các hoạt động khác của GV với 4 phương pháp được sử dụng để đánh giá: SV đánh giá, Đồng nghiệp đánh giá, Chủ nhiệm khoa đánh giá và Bảng tự đánh giá của GV. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thông tin thu thập từ Bảng đánh giá của SV có thể có những yếu tố thiên lệch do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, các kết quả phân tích thống kê của các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các hệ số tương quan giữa SV đánh giá, Đồng nghiệp đánh giá và Chủ nhiệm khoa đánh giá đạt mức chấp nhận được [26].
Theo nghiên cứu của nhiều học giả ở Châu Âu và ở Mỹ, các trường đại học và cao đẳng thường tập trung đánh giá HĐGD của GV theo 2 nội dung cơ bản sau: Giảng dạy (giảng dạy trên lớp, biên soạn bài giảng, biên soạn giáo trình,.) và Hướng dẫn SV (tư vấn cho SV về các chương trình học, giúp đỡ ngoài giờ trên lớp, hướng dẫn luận văn, luận án,…). Braskamp và Ory (1994) đã mở rộng hơn định nghĩa về các hoạt động của GV trong đánh giá HĐGD của giảng viên. Các hoạt động của giảng viên được chia thành 4 nhóm chính: Truyền đạt kiến thức (trong các khóa học, các buổi học trên truyền hình, các hội thảo/hội nghị; tổ chức một khóa học); Tư vấn và hướng dẫn cho sinh viên/học viên (giám sát sinh viên trong các phòng thí nghiệm, các buổi học ngoài trời; tư vấn cho sinh viên về nghề nghiệp, học thuật, tư vấn riêng; giám sát hỗ trợ giảng dạy; giám sát sinh viên trong các trải nghiệm thực tế; tư vấn, giám sát sinh viên trong các đề tài nghiên cứu); Tiến hành các hoạt động học tập (xem xét và thiết kế lại các khóa học; xét duyệt các chương trình học; thực hiện theo các tài liệu/sách giáo khoa, phần mềm vi tính; hướng dẫn các chương trình học từ xa); và Là giảng viên (đánh giá HĐGD của các đồng nghiệp; hướng dẫn các nghiên cứu về giảng dạy; các hoạt động phát triển chuyên môn,. Hiện nay, trên thế giới có nhiều phương pháp hay công cụ khác nhau đã qua thực nghiệm được vận dụng để đánh giá HĐGD của GV.
Ở Châu Âu và ở Mỹ, việc 15 z đánh giá HĐGD của GV được thực hiện thông qua 7 phương pháp chính sau: Đánh giá của SV; Các bài thi của SV; Tự đánh giá/tự báo cáo của GV; Hồ sơ giảng dạy; Quan sát của Tổ trưởng Bộ môn hoặc Chủ nhiệm khoa; Đánh giá của đồng nghiệp; và các chuyên gia đánh giá ngoài. Mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng, điều kiện và mục đích sử dụng riêng. Do vậy, các trường đại học và cao đẳng không phải đồng thời thực hiện đầy đủ các phương pháp để đánh giá HĐGD của GV mà cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng để lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp, phục vụ mục đích đặt ra của Khoa/Nhà trường. Một số tác giả nước ngoài khác cũng có các nghiên cứu về các hình thức đánh giá HĐGD của GV như William E.
Trong công tác đảm bảo chất lượng HĐGD ở Việt Nam hiện nay, một thành tố quan trọng là bảo đảm chất lượng đội ngũ GV. Hoạt động kiểm định chất lượng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo bắt đầu tổ chức, triển khai trong các trường đại học của Việt Nam từ năm 2005 đang tạo nên một ý thức xây dựng một nền “Văn hoá chất lượng” trong các trường đại học, cao đẳng. Chính vì vậy, chúng ta phải xây dựng các tiêu chí đánh giá HĐGD của GV, trong đó có các vấn đề: Đánh giá GV để làm gì? Đánh giá những gì ở GV? Những ai tham gia đánh giá GV? Hình thức đánh giá nào có độ tin cậy cao nhất? và mục đích của việc đánh giá đó? Mục đích của việc đánh giá này là để GV căn cứ vào kết quả đánh giá mà GV có thể biết việc giảng dạy của mình có hiệu quả hay không, từ đó giúp họ tự đánh giá và hoàn thiện trong HĐGD nâng cao chất lượng đào tạo. Đồng thời, nó cung cấp thông tin chính xác cho người quản lý giảng dạy để từ đó có những điều chỉnh phù hợp.
Ở Việt Nam, đã có những nghiên cứu về đánh giá HĐGD của GV tại các trường đại học và cao đẳng. Nguyễn Phương Nga đã đề xuất các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động của GV trong các trường đại học và cao đẳng Việt Nam, trong đó có tiêu chuẩn về HĐGD, một trong những hoạt động quan trọng nhất của GV [10]. TS Vũ Thị Phương Anh đã tiến hành thu thập và sử dụng ý kiến của SV trong đánh giá chất lượng giảng dạy ở Đại học Quốc gia Thành phố Hồ 16 z Chí Minh năm 2005 đã kết luận những ý kiến thu thập được từ SV thực sự có giá trị trong việc giúp các GV cũng như Nhà trường tìm được những giải pháp cụ thể và khả thi trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy [2]. Tác giả Lã Văn Mến năm 2005 đã đề xuất tiêu chí đánh giá phương pháp giảng dạy của GV dùng cho cả Hội đồng chuyên môn và SV dựa trên mục tiêu giảng dạy của từng phương pháp [9].
Năm 2005, hai tác giả Nguyễn Phương Nga và Bùi Trung Kiên trong nghiên cứu của mình về SV đánh giá hiệu quả giảng dạy đã nêu lên sự cần thiết của việc SV đánh giá hiệu quả giảng dạy của GV, đồng thời xây dựng và thử nghiệm Phiếu khảo sát ý kiến SV về kết quả giảng dạy [11]. Đánh giá HĐGD của GV đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cụ thể hoá bằng văn bản và thực hiện trong các trường đại học và cao đẳng từ năm 2008. Cùng với việc thực hiện việc đánh giá HĐGD của GV, nhiều nghiên cứu liên quan đến đánh giá HĐGD của GV cũng ra đời. Tác giả Vũ Thị Quỳnh Nga (2009) trong luận văn Thạc sỹ của mình đã có nghiên cứu sâu về một số yếu tố tác động đến việc đánh giá của SV đối với GV ở một số trường đại học tại Hà Nội.
Tác giả đã rút ra một số kết luận quan trọng về tác động của đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm xã hội, mức sống của SV đến việc đánh giá của họ về HĐGD của GV để từ đó hiểu rõ hơn những đòi hỏi của SV; để giúp các GV, các trường đại học tìm ra những phương pháp quản lý, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp mọi đối tượng SV [13]. Tác giả Sái Công Hồng (2008) trong nghiên cứu của mình đã xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên trung học cơ sở và áp dụng thí điểm tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc. Từ việc đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên thông qua sự tự đánh giá của giáo viên, đánh giá của đồng nghiệp và của cán bộ quản lý, tác giả đã đưa ra những kết luận về chất lượng giảng dạy của giáo viên ở ba khía cạnh chủ yếu là kiến thức, kỹ năng sư phạm và thái độ giảng dạy của giáo viên. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị và giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở [8].
Năm 2008, tác giả Trần Thị Tú Anh đã nghiên cứu đánh giá chất lượng giảng dạy đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Tác giả đã xây dựng được 17 z bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy môn học thông qua khách thể là SV và bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy chương trình thông qua khách thể là GV và cán bộ quản lý.