ĐẶT VẤN ĐỀ Chất lượng cuộc sống (CLCS) là sự nhận thức của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh của nền văn hóa và những hệ thống giá trị mà họ đang sống, và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ” (1) CLCS liên quan đến sức khỏe (HRQOL – health-related quality of life) là một khái niệm thu hẹp hơn của CLCS. Vì có rất nhiều khía cạnh ảnh hưởng đến CLCS nên khái niệm này ra đời giúp tập trung vào các yếu tố tác động của sức khỏe lên cuộc sống của một người. CLCS liên quan đến sức khỏe phản ánh cảm nhận chủ quan của người bệnh về tình trạng sức khỏe bản thân trong cuộc sống hàng ngày và được hình thành từ sự diễn giải tình trạng sức khỏe của mình so với cái mà người bệnh mong muốn đạt được (2) Suy tim là trạng thái bệnh lý trong đó cơ tim mất khả năng cung cấp máu đủ đáp ứng với nhu cầu cơ thể, lúc đầu khi gắng sức rồi sau đó cả khi nghỉ ngơi. Suy tim là giai đoạn cuối của các bệnh lý tim mạch (3, 4).
Suy tim là một vấn đề sức khỏe lâm sàng và cộng đồng quy mô toàn cầu đang gia tăng ở mức độ báo động do sự già hóa dân số và nhiều tiến bộ cải thiện trong chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch. Hơn 5,8 triệu người tại Hoa Kỳ và hơn 23 triệu người trên toàn thế giới mắc suy tim.000 trường hợp suy tim mới được chẩn đoán và con số này được dự đoán sẽ đạt 1,5 triệu mỗi năm vào năm 2040 (5-7). Sau khi được chẩn đoán suy tim, tỷ lệ ước tính sống sót lần lượt là 50% và 10% ở 5 và 10 năm. Những trường hợp suy tim nặng, hơn 50% bệnh nhân tử vong trong vòng một năm sau khi chẩn đoán (5, 8).
Suy tim chịu trách nhiệm cho 1 triệu trường hợp bệnh nhập viện ở Châu Âu và Hoa Kỳ hàng năm (9, 10). Sau khi xuất viện, tỷ lệ tái nhập viện đạt khoảng 30% trong vòng 60– 90 ngày (9). Đợt cấp của các triệu chứng chiếm 50% các đợt tái phát trong vòng 6 tháng (6). Tại các nước Châu Á, tỷ lệ mắc suy tim nhìn chung tương tự với thế giới là từ 1 – 3%.
Tần suất suy tim chiếm đến 20% số lần nhập viện (11). 2 Suy tim mạn tính ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe cộng đồng không những do tần suất bệnh ngày càng gia tăng mà còn do các tác động của suy tim lên sinh hoạt của người bệnh cũng như các chi phí xã hội cần chi trả cho nó. Những bệnh nhân suy tim mạn tính có những triệu chứng về thể chất là khó thở, mệt mỏi, bên cạnh đó là những vấn đề về tâm lý, các tác dụng phụ của thuốc điều trị và sự giới hạn tham gia các hoạt động xã hội ở những mức độ khác nhau. Từ các triệu chứng thể lực làm mất dần khả năng tiếp xúc xã hội, lo lắng, cảm giác sợ đau, sợ chết dẫn tới các rối loạn giấc ngủ, lo âu, trầm cảm.
Chính những điều này dẫn tới giảm chất lượng cuộc sống (CLCS) ở bệnh nhân suy tim mạn tính về cả thể chất và sức khỏe tinh thần. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về CLCS của bệnh nhân suy tim nhưng tại Việt Nam chỉ mới có 2 nghiên cứu nhưng lại được thực hiện ở cùng một địa điểm và trên cùng đối tượng bệnh nhân ngoại trú (12, 13). Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên là bệnh viện tuyến cao nhất tại Đắk Lắk. Phòng khám Nội tim mạch được thành lập 3 năm, thuộc khoa Nội tim mạch.
Phòng khám quản lý các bệnh lý tim mạch ngoại trú, trong đó suy tim chiếm tỷ lệ cao. Từ khi phòng khám đi vào hoạt động, số lượng bệnh nhân từ các tuyến trên chuyển về quản lý ngoại trú tại địa phương cũng tăng lên, giúp giảm tải cho các tuyến trên. Hiện nay, suy tim mạn tính được quan tâm nhiều với mục tiêu điều trị là kéo dài thời gian sống, cải thiện triệu chứng cơ năng, thực thể mà còn tăng CLCS của người bệnh. Tuy nhiên, tại Đắk Lắk chưa có đề tài nào về CLCS ở bệnh nhân suy tim mạn tính.
Vấn đề đặt ra là chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn tính điều trị ngoại trú tại đây như thế nào? Và những yếu tố nào liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn tính? Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn tính và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên năm 2021” 3 MỤC TIÊU 1. Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn tính điều trị ngoại trú tại Phòng khám Nội tim mạch Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên năm 2021. Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn tính điều trị ngoại trú tại Phòng khám Nội tim mạch Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên năm 2021. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Thông tin chung 1.1 Định nghĩa về suy tim Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ/ Hội tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA), hội Tim mạch Châu Âu (ESC) và hội Tim Mạch Việt Nam đã định nghĩa: “Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp đặc trưng bởi các triệu chứng điển hình xảy ra do bất kỳ rối loạn cấu trúc hay chức năng nào của tim làm tổn hại đến khả năng đổ đầy hoặc tống máu của thất”. Tuy nhiên, định nghĩa hiện tại của suy tim giới hạn ở giai đoạn khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện rõ ràng. Trước khi triệu chứng xuất hiện, bệnh nhân có thể có bất thường về cấu trúc và/hoặc chức năng tim (rối loạn chức năng tâm thu hoặc tâm trương) là tiền đề cho suy tim tiến triển (3, 14, 15). Tùy vào thời gian, đặc điểm và mức độ của triệu chứng mà phân thành suy tim cấp và suy tim mạn tính: - Suy tim cấp là tình trạng mà triệu chứng và dấu chứng suy tim mất bù mới khởi phát hay nặng dần lên đòi hỏi nhập viện và điều trị khẩn trương hay cấp cứu.
Suy tim cấp gồm tình trạng phù phổi cấp, suy tim và đợt mất bù cấp của suy tim mạn. - Suy tim mạn tính là suy tim tiến triển từ từ, có thể xảy ra sau suy tim cấp hoặc không, kéo dài nhiều tháng, nhiều năm như suy tim trong các bệnh tim mắc phải, các bệnh tim bẩm sinh, suy tim sau nhồi máu cơ tim, trong bệnh cơ tim, bệnh tăng huyết áp,…Suy tim mạn tính có diễn biến lâu dài. Khi bệnh nhân được điều trị tốt, tình trạng suy tim không xấu đi trong tối thiểu một tháng thì được gọi là suy tim ổn định. Khi các triệu chứng tiến triển xấu đi được gọi là suy tim mất bù và điều này có thể xảy ra đột ngột hoặc từ từ, khiến bệnh nhân phải nhập viện điều trị (3, 4).
Thực tế, không có một mốc thời gian cụ thể để chẩn đoán suy tim mạn tính, thường khi bệnh nhân được chẩn đoán suy tim trên lâm sàng mà không có các triệu chứng của suy tim cấp thì được xem là suy tim mạn tính. Phân loại suy tim mạn tính 5 ESC phân loại suy tim dựa trên phân suất tống máu thất trái (left ventricular ejection fraction – LVEF). Suy tim LVEF giảm (LVEF < 40%) còn gọi là suy tim tâm thu. Suy tim LVEF bảo tồn (LVEF ≥ 50%) còn gọi là suy tim tâm trương.
Những bệnh nhân có LVEF trong khoảng 40 – 49% được định nghĩa là suy tim LVEF khoảng giữa hay phân suất tống máu giảm vừa. Hầu hết bệnh nhân suy tim tâm thu (suy giảm chức năng tống máu) đều có phối hợp suy tim tâm trương (rối loạn chức năng giãn và đổ đầy thất). Việc phân loại suy tim dựa trên LVEF là quan trọng do sự khác biệt về nguyên nhân suy tim, nhân khẩu học, các bệnh đồng mắc, đáp ứng điều trị (3). Suy tim LVEF giảm và suy tim LVEF bảo tồn có dịch tễ học, bệnh sinh, liệu pháp điều trị khác nhau nên việc phân biệt bệnh nhân suy tim dựa trên LVEF là quan trọng và cần thiết.
So với suy tim LVEF giảm, suy tim với LVEF bảo tồn thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi có tăng huyết áp, rung nhĩ kèm theo (16). Hiện nay, chỉ suy tim LVEF giảm được nghiên cứu nhiều và phác đồ điều trị được chứng minh làm giảm cả tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong (3). Thực trạng mắc suy tim mạn tính trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Nhiều nghiên cứu về dịch tễ học suy tim đã được công bố.
Tuy có nhiều điểm khác biệt về phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, tiêu chuẩn chẩn đoán nhưng kết quả của các nghiên cứu đều cho thấy suy tim là bệnh lý tim mạch có tốc độ gia tăng nhanh và trở thành gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Tỷ lệ mắc suy tim tăng dần theo tuổi ở cả 2 giới. Theo ESC 2016, tỷ lệ mắc suy tim phụ thuộc vào định nghĩa suy tim được áp dụng nhưng xấp xỉ 1 – 2% người trưởng thành nói chung ở các nước phát triển và lên đến trên 10% ở nhóm trên 70 tuổi. Ở những người trên 65 tuổi, cứ 6 người đến khám ban đầu với triệu chứng là khó thở khi gắng sức thì 1 người sẽ được chẩn đoán là suy tim.
Nguy cơ mắc suy tim suốt đời ở tuổi 55 là 33% ở nam và 28% ở nữ. Tại Mỹ, số mắc suy tim tăng từ khoảng 20/1000 dân trong độ tuổi 65 – 69 tuổi lên đến hơn 80/1000 dân ở những người ≥ 85 tuổi. Mỗi năm tại Mỹ có gần 650.000 trường hợp mắc 6 mới. Tại khu vực Đông Nam Á, số trường hợp bệnh lên tới trên 600 triệu người và phần lớn là dưới 65 tuổi (3, 17-20).
Mặc dù các nghiên cứu dịch tễ học gần đây chỉ ra việc điều trị tích cực giúp cải thiện tỷ lệ sống còn, tuy nhiên tiên lượng chung vẫn rất nặng nề với tỷ lệ tử vong trong 5 năm lên đến 50%. Nguyên nhân tử vong có thể do suy tim tiến triển hoặc thứ phát do các rối loạn nhịp thất. Tỷ lệ tái nhập viện hàng năm lên đến 50% và đưa đến gánh nặng bệnh tật cho hệ thống chăm sóc sức khỏe của mỗi quốc gia. Tại các nước Châu Á, tỷ lệ mắc suy tim nhìn chung tương tự với thế giới là từ 1 – 3%.
Tần suất suy tim chiếm đến 20% số lần nhập viện.