CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1. Lo âu thi cử 1. Khái niệm Lo âu là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan tỏa, khó chịu, mơ hồ kèm theo các triệu chứng thần kinh tự chủ như đau đầu, vã mồ hôi, hồi hộp, siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị và bứt rứt, không thể ngồi yên hoặc đứng yên một chỗ [2]. Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy ra và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa [2].
Lo âu tình thế là lo âu xuất hiện trong những tình huống chuyên biệt có thể tiên đoán được [2]. Lo âu thi cử là một dạng của lo âu tình thế, đặc trưng với các triệu chứng bản thể, nhận thức và hành vi của lo âu trong quá trình chuẩn bị cũng như trong lúc làm bài thi [10]. Lo âu và đáp ứng “báo động” của hệ TK giao cảm Các nhà nghiên cứu tin rằng cảm giác lo âu chuẩn bị cho cơ thể về mặt thể chất, nhận thức và hành vi để phát hiện và đối phó với các mối đe dọa [7]. Điều này gây ra đáp ứng “báo động” của hệ thần kinh giao cảm.
Khi đó, phần lớn hệ giao cảm bị kích thích cùng một lúc, làm cho hoạt động chức năng các cơ quan tăng ở một mức độ cực đại, để cơ thể chống lại các tác động vào cơ thể. Mục đích của giao cảm là cung cấp năng lượng lớn cho cơ thể, trong tình trạng cơ thể bị tác động mạnh. Đáp ứng này có ý nghĩa tự vệ quan trọng [3]. Biểu hiện của lo âu thi cử Các biểu hiện của lo âu thi cử rất đa dạng, bao gồm các triệu chứng bản thể, hành vi và cảm xúc (Bảng 1.1: Các triệu chứng liên quan đến lo âu thi cử [36] Triệu chứng bản thể Triệu chứng hành vi Triệu chứng cảm xúc Vã mồ hôi Khó tập trung, chú ý và gợi nhớ, gây Phát biểu tiêu cực Đổ mồ hôi tay cản trở cho việc: Có những kỳ vọng bi quan Đau đầu - Đọc hiểu các yêu cầu của bài thi Thờ ơ và không có động lực Đau bụng - Gợi lại từ ngữ, sự việc và khái niệm So sánh bản thân với người Buồn nôn - Thiết lập ý nghĩ và câu trả lời khác một cách tiêu cực Chân tay run rẩy Làm bài khá tệ khi mà nội dung bài thi Đưa ra những lý do biện - Đã học minh cho việc làm bài Nhịp tim nhanh không tốt Choáng váng - Đã nắm vững trước đó Căng cơ Phát ngôn không phù hợp, bồn chồn, Thể hiện sự tránh né và sợ lúng túng, nhìn chằm chằm, gõ nhịp, hãi đối với thi cử Máy cơ (Tics) khóc, và nói nhanh Da ửng đỏ Đặt nhiều câu hỏi không cần thiết về Khó ngủ vấn đề thi cử Ăn không ngon Tinh thần bị ức chế Cảm thấy choáng ngợp Than phiền về nội dung bài thi Tìm sự trợ giúp không cần thiết từ người khác Gian lận Giả bệnh và vắng mặt trong ngày thi 5 1.
Mức độ lo âu thi cử và một số thang điểm đánh giá 1. Mức độ lo âu thi cử Đối với mỗi cá nhân, mức độ lo âu dựa trên khả năng những điều tồi tệ xảy ra và năng lực đương đầu của họ. Niềm tin của một người về năng lực của mình là một dạng tự nhận thức, đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích xem tình huống đó có đe dọa hay không. Khi một người cảm giác năng lực của họ thấp, họ có thể dự đoán các kết quả tiêu cực như thất bại, trong những điều kiện không chắc chắn.
Thi cử vì thế được xem là mối đe dọa nhiều hơn bởi các SV có năng lực thấp [32]. Một số thang điểm đánh giá mức độ lo âu thi cử a) Thang điểm Westside (Westside Test Anxiety Scale) [11] Thang điểm Westside gồm 10 mục được đề xuất bởi Richard Driscoll là thang điểm tự đánh giá về tình trạng lo âu và những nhận thức ảnh hưởng đến việc làm bài thi, mỗi mục có 5 mức độ trả lời. Hầu hết các mục của thang điểm này trực tiếp đánh giá về vấn đề giảm khả năng làm bài hoặc về cảm giác lo lắng gây trở ngại cho việc tập trung. Các triệu chứng của stress sinh lý không được bao gồm trong thang đo.
Thang điểm Westside có độ nhạy cao trong việc đo lường suy nhược do lo âu. b) Thang điểm Cassady-Johnson (Cassady-Johnson Cognitive Test Anxiety Scale) [9] Thang điểm được phát triển bởi Jerrell C. Cassady và Ronald E. Johnson, chỉ đo lường riêng về khía cạnh nhận thức của lo âu thi cử, gồm 27 mục, mỗi mục có 4 mức độ trả lời.
Thang điểm bao gồm luôn cả các mục biểu thị mức độ thấp lẫn các mục biểu thị mức độ cao của lo âu thi cử. 6 Đây là một thang đo tin cậy và giá trị. Thang điểm cũng cho thấy giá trị dự đoán tốt, với sự liên quan giữa mức độ lo âu thi cử và việc suy giảm hiệu suất làm bài. c) Thang điểm STAI (State – Trait Anxiety Inventory) STAI là trắc nghiệm tâm lý đo lường trạng thái lo âu và nhân cách lo âu, được phát triển bởi Charles Spielberg và cộng sự dựa trên thang đo Likert 4 mức độ bao gồm 40 câu hỏi tự đánh giá [42].
Trạng thái lo âu (State anxiety) có thể được định nghĩa là cảm giác lo sợ, căng thẳng, khó chịu,… và sự kích thích hệ TK tự chủ gây ra bởi các tình huống được xem như là nguy hiểm. Loại lo âu này đề cập đến việc một người cảm thấy như thế nào trước mối đe dọa và được xem là tạm thời [38]. Nhân cách lo âu (Trait anxiety) có thể được định nghĩa là cảm giác căng thẳng, lo lắng, khó chịu,. được trải nghiệm hàng ngày và thường được hiểu là cảm nhận của một người trước các tình huống đặc thù mà người đó trải nghiệm hàng ngày [38].
Điểm số từ 20 đến 80, số điểm càng cao mức độ lo âu càng cao. Điểm cắt 39 – 40 được đề nghị để phát hiện các triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng cho thang đo trạng thái lo âu, đối với dân số người cao tuổi, điểm cắt là 54 – 55 [18]. STAI có 2 bản: bản dành cho người lớn (Phụ lục 3) và bản dành cho trẻ em. d) Thang điểm VAS-100 Thang đo dạng nhìn (VAS) là một công cụ dùng để đo lường một đặc tính hoặc thái độ được cho là nằm trong khoảng liên tục và không thể đo trực tiếp một cách dễ dàng [14].
VAS thường được dùng để đo cường độ hoặc tần suất các triệu chứng, đặc biệt là đau. Thang đo tự đánh giá này nhạy với những thay đổi nhỏ hơn là thang 7 đo mô tả theo thứ tự mức độ các triệu chứng đơn giản ví dụ như nhẹ hoặc vừa hoặc nặng [30]. Thang điểm VAS điển hình gồm một đường thẳng dài 100 mm với hai đầu: một đầu biểu thị cho mức độ không nghiêm trọng và đầu kia biểu thị cho mức độ cực kỳ nghiêm trọng của các triệu chứng được đánh giá (Hình 1. ĐTNC sẽ đánh dấu (|) lên đường thẳng ở điểm mô tả đúng nhất tình trạng hiện tại của họ.
Độ dài của đường thẳng đến điểm đánh dấu được đo và ghi lại bằng mm [14]. Không nghiêm trọng Cực kỳ nghiêm trọng Hình 1.1: Thang điểm VAS-100 Thang điểm này cũng đã được dùng để đánh giá mức độ lo âu. VAS đánh giá mức độ lo âu nhanh và đơn giản, hạn chế những khó khăn của ĐTNC trong việc hiểu đúng những câu hỏi phức tạp của các thang đo khác [25]. Thang điểm cũng đã được chứng minh tính chính xác, hữu dụng, và tương quan thuận với thang điểm tự đánh giá trạng thái lo âu STAI trong việc đo lường mức độ lo âu trước phẫu thuật [21].
Một số phương pháp trị liệu Có nhiều phương pháp can thiệp điều trị lo âu thi cử được mô tả tập trung vào các khía cạnh cảm xúc, nhận thức và rèn luyện kỹ năng (Bảng 1.2: Một số phương pháp trị liệu lo âu thi cử theo Moshe Zeidner [29] Trọng tâm Phương pháp Kỹ thuật can thiệp Cảm xúc Liệu pháp hành vi Phơi nhiễm với lo âu Luyện thư giãn Giải mẫn cảm hệ thống Luyện kiểm soát lo âu Phản hồi sinh học Liệu pháp tích hợp Làm mẫu Luyện tập đề kháng stress Sửa đổi nhận thức hành vi Luyện chú ý Nhận thức Liệu pháp nhận thức Tái cấu trúc nhận thức Kỹ năng Rèn luyện kỹ năng học tập Cần lưu ý rằng sự khác biệt giữa các phương pháp điều trị khác nhau (định hướng cảm xúc và định hướng nhận thức) không rõ ràng, vì hầu hết các kỹ thuật tập trung vào cảm xúc cũng chứa các yếu tố nhận thức; thay vào đó, sự khác biệt này có thể được đặt trên một trục liên tục từ cảm xúc đến nhận thức [29]. Phơi nhiễm với lo âu [45] Phơi nhiễm với lo âu là phương pháp giảm lo âu bằng cách cho thân chủ tiếp xúc với những kích thích gây ra lo âu cho đến khi những kích thích đó không còn khả năng gây ra lo âu nữa. Với cách tiếp cận của phương pháp này, SV sẽ được đặt vào các tình huống gây lo âu (tưởng tượng hoặc có thật) mà không đánh rớt hay phê phán. Theo đó, SV biết rằng không có gì phải lo sợ khi thi cử, đáp ứng lo âu dần yếu đi và biến mất khi kích thích được lặp đi lặp lại.
9 Các nghiên cứu về phương pháp này cũng như sự hiệu quả của nó trong việc giảm đáp ứng lo âu còn khá hạn chế. Luyện thư giãn [45] Việc luyện thư giãn chủ yếu hướng đến việc thay đổi những phản ứng cảm xúc của SV lo âu trong quá trình thi. Đây là phương pháp dễ tập luyện và thường được sử dụng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khi thư giãn một cách chủ động và thường xuyên, sự lo âu sẽ giảm bớt.
Bên cạnh đó, liệu pháp được khẳng định là có tác dụng ngăn ngừa gia tăng nhịp tim và huyết áp. Giải mẫn cảm hệ thống [45] Theo quan điểm truyền thống của liệu pháp hành vi cổ điển, lo âu thi cử là một phản ứng cảm xúc kinh điển phát sinh từ trải nghiệm không mong muốn của một người trong những tình huống cụ thể. Giải mẫn cảm hệ thống sẽ ức chế phản ứng sinh lý quá mức và hình tượng gợi lo âu khi đối mặt với các kích thích không mong muốn. Giải mẫn cảm hệ thống diễn ra như sau: thân chủ tiếp xúc lặp đi lặp lại với hàng loạt kích thích (tăng dần về mức độ sợ hãi do kích thích gây ra).