Đặt vấn đề Xã hội ngày càng phát triển, áp lực cuộc sổng ngày càng nhiều khiến con người phải chịu những rối loạn tâm thần có xu hướng gia lăng trong đó có trầm cảm. Theo Tổ chức Y tể Thế giới (WHO), trầm cảm là một rối loạn về cảm xúc, có đặc điểm chung là bệnh nhân thấy buồn chán, mất sự hứng thú, cảm thấy tội lỗi hoặc giảm giá trị bản thân, khó ngủ hoặc sự ngon miệng, khả năng làm việc kém và khó tập trung. Trầm cảm có thể trở thành mãn tính hoặc tái phát và làm giảm khả năng của cá nhân trong thích úng với cuộc sổng, trong trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn tới tự sát [5]. Trầm cảm được đặc trưng bởi 5 dấu hiệu là: Giảm khí sắc (tức có trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán chường u uất) - Sự đánh giá âm tính và thái độ bi quan đối với tương lai - Biểu hiện tính thụ động và giảm hoạt tính - Mất hứng thú và xu hướng tự hủy hoại - Những rối loạn về thần kinh thực vật và một số biểu hiện sinh học (sút cân, giảm dục năng, ít ngủ, thức giấc sớm, sũng sờ) [22].
Hầu hểt các ca bệnh trầm cảm có thể điều trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý [7]. Trầm cảm hiện đang là một rối loạn tàm thần phổ biến và có tầm quan trọng đặc biệt ở hầu hết các quốc gia trên the giới. Theo ước tính mới nhất của WHO, hơn 300 triệu người đang sống với trầm cảm, tăng hơn 18% trong giai đoạn 2005-2015 [42], [43]. Theo dự đoán năm 2020 trầm cảm đúng thứ 2 trong các nguyên nhân gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu và đen năm 2030, đây sẽ là nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [40], [41].
Tại Việt Nam, theo Báo cáo kểt quả điều tra quốc gia về Vị thành niên Việt Nam lần II năm 2009 (SAW II) cho biết, trong sổ hơn 10000 thanh thiếu niên được điều tra tại Việt Nam ở độ tuổi từ 14 đến 25 tuổi, có 73,1% người trả lời từng có cảm giác buồn chán, có 27,6% thanh thiếu niên đã trải qua cảm giác rất buồn hoặc cảm thấy mình không có ích đến nỗi không muốn hoạt động như bình thường. Tỷ lệ thanh thiếu niên cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tương lai là 21,3% và có 4,1% đã tùng nghĩ đến chuyện tự tử. So sánh với SAW I chì xét riêng cảm giác nghĩ đến chuyện tự từ, mức độ tăng đã tăng lên khoảng 30% [2] Trong những năm gần đây, tỷ lệ sinh viên đại học gặp phải các vấn đề sức khỏe tâm thần đang tăng lên ở nhiều nước trên thế giới, trong đó chủ yếu là các chứng tràm cảm, lo âu [37]. Nghiên cứu cùa Mancevska và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 354 sinh viên y khoa năm thứ nhất và năm thứ hai Trường Y khoa Đại học Skopje, Cộng hòa Macedonia.
Nhóm tác giả sử dụng thang đo Beck, điểm cat 17 để xác định mức độ rối loạn trầm cảm; thang đo Taylor Manifest Anxiety Scale (TMAS) de xác định các triệu chúng lo âu với điểm cắt 16. Kết quà nghiên cứu cho thấy 10,4% sinh viên có dấu hiệu trầm cảm; 65,5% sinh viên có triệu chúng lo âu [32], Một nghiên cứu về trầm cảm của Yuquing Song và các cộng sự tiến hành trên 988 sinh viên năm nhất trường 3 Đại học Bắc Kinh và 802 sinh viên năm nhất Đại học Hồng Kông, sử dụng thang đánh giá CES-D điểm cắt 16. Kết quả nghiên cửu chì ra rằng có 24,8% sinh viên năm nhất ở Bắc Kinh có dấu hiệu trầm cảm với điểm số ưên CES-D vượt quá 16, trong đó 8,9% có đỉểm số 25 hoặc cao hơn. Khoảng 43,9% sinh viên năm thứ nhất ở Hồng Kông có dấu hiệu trầm càm với điểm số trên CES-D vượt quá 16, trong đó 17,6% có diem số 25 hoặc cao hơn [36].
Một số nghiên cứu về trầm cảm học đường của sinh viên Việt Nam như nghiên cứu Stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên y khoa Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 của tác giả Trần Kim Trang trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt, sử dụng thang đánh giá DASS-21 với điềm cắt 10-13 điềm là trầm cảm nhẹ, 14-20 điểm là trầm cảm vừa, 21-27 điểm là trầm cảm nặng. Kết quả nghiên cứu này chì ra rằng tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm là 28,8% [16]. Một nghiên cửu khác của tác giả Nguyễn. Thị Hưởng được tiến hành trên 400 sinh viên năm thứ 2, sử dụng thang đo CES-D, điểm cắt 22 đã đưa ra tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm là 49,5 % [14].
Nghiên cửu khác về trầm cảm cũng sử dụng thang đo CES-D, với điểm cắt 16 cùa tác giả Trần Quỳnh Anh cùng cộng sự trên một quy mô rộng hơn với 2099 sinh viên hệ Bác sĩ Đa khoa năm thứ 1, 3 và 5 tại 8 trường Y Dược trên cả nước đã đưa ra kết quà tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm là 43,2% [21]. Trong nghiên cứu Thực trạng rối loạn trầm cảm và một số yếu tố liên quan của sinh viên Trường Đại học Y Khoa Vinh năm 2013, tác giả Phan Thị Diệu Ngọc đã chỉ ra tỷ lệ sinh viên bị trầm cảm nhẹ: 31,2 %, vừa 29,8 % và nặng 4,3 % bằng công cụ là thang đo Beck rút gọn [9]. Tuy nhiên đổi tượng của các nghiên cửu này ỉà sinh viên các ngành y khoa, kinh tế. Hiện nay chưa có các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của sinh viên khối kĩ thuật.
Trầm cảm là một rối loạn phức tạp và không chỉ có một nguyên nhân riêng rẽ để phát sinh bệnh. Yeu tố cả nhân bao gồm các yếu tố về đặc điềm nhân khẩu học, tỉnh cách cá nhân hành vi, lối sống cá nhân đã được nhiều nghiên cứu chứng minh có mổi liên quan đến việc xuất hiện dẩu hiệu trầm cảm. Tính dễ bị tổn thương của phụ nữ đối với trầm cảm đã được nghiên cứu rất nhiều [8], [12]. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hưởng, tỷ lệ sinh viên nữ có nguy cơ trầm cảm cao hơn sinh viên nam khoảng 10% [13].Tuổi đóng vai trò quan trọng trong trầm cảm, Nhóm tuổi có nguy cơ rối loạn khí sắc cao là nhóm từ 45-64 tuổi, trong khi đó các rối loạn trầm cảm điển hình lại thường gặp ở lứa tuổi từ 18-44, trong đó lứa tuổi từ 14-18 chiếm khoảng 18,5% rối loạn hầm cảm, ở thanh thiếu niên trứơc dậy thì là 0,5% [40], Mối liên quan giữa lối sống và tràm cảm ở sinh viên cũng được khẳng định trong một số nghiên cứu.
Một nghiên cứu được tiến hành trên 3000 sinh viên đại học ở Mĩ phát hiện ra rằng, hút thuốc ỉá và thường xuyên uống rượu bia có liên quan đến tăng nguy cơ trầm càm và lo âu [24]. Hút 4 thuốc lá cũng được xác định là một hành vi nguy cơ cao liên quan đến triệu chứng trầm cảm [23], Những sinh viên có dấu hiệu trầm cảm nặng hút nhiều số điếu thuốc trong ngày nhiều hơn nhũng người có dấu hiệu trầm cảm nhẹ [23], Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng những người hút thuốc lá có biểu hiện rối loạn trầm cảm cao hơn những người không hút thuốc lá [35], Theo nghiên cứu của tác giả Phan Thị Diệu Ngọc tại Đại học Y khoa Vinh, những sinh viên đánh giá tình trạng sức khỏe của bản thân yếu và không được khỏe có nguy cơ bị trầm càm vừa và nặng cao gap 2,2 lần so với sinh viên đánh giá bản thân khỏe mạnh hoặc hoàn toàn khỏe mạnh [9], Nghiên cứu của tác giả Trần Quỳnh Anh và cộng sự cũng chỉ ra ràng nguy cơ trầm cảm của sinh viên liên quan đến vấn đề khó khăn về nơi ở chiếm 16%, khăn về tài chính chiếm 8,1% [21], Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Mai cũng cho tỉ lệ có nguy bị trầm cảm ở nhóm không thường xuyến tập thể dục/thể thao cao hơn nhóm thường xuyên tập thể dục thể thao, tương tự ti lệ có nguy cơ bị trầm cảm ở nhỏm hút thuốc lá, chơi game online cũng cao hơn so với nhỏm không hút thuốc lá, không chơi game online. Nghiên cứu này cũng chì ra, việc những sinh viên không bao giờ tham gia hoạt động ngoại khóa có nguy cơ bị trầm cảm gấp 2,3 lần so với những sinh viên thỉnh thoảng hoặc thường xuyên tham gia các hoạt động ngoại khóa [8] Các sự kiện gây căng thẳng trong gia đình là yếu tố thuận lợi để phát sinh rối loạn trầm càm như hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khãn, mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình,., Nghiên cứu Dấu hiệu trầm cảm và một số yếu tố liên quan ờ một số khối sinh viên đa khoa Trường Đại học Y Dược Hài Phòng, tác giả Nguyễn Hoàng Việt Đức đã chỉ ra rang dấu hiệu trầm cảm ở nhóm sinh viên gặp rắc rối với ba mẹ cao gấp 2,56 lần nhóm không gặp rắc rối với ba mẹ. Các yếu tổ gây căng thẳng trong gia đình không chỉ xuất phát từ trong gia đình, mà nó còn do bổ mẹ mang về từ công sở, do con cái mang về từ trường học và do môi trường sống tự nhiên và xã hội mang đến [19], [27], Sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè rất quan trọng cho sự thành công trong quá trình học tập và cuộc sống của sinh viên.
Sinh viên càng nhận được nhiều sự hỗ trợ từ gia đình gia đình bạn bè thì càng ít nguy cơ mắc rối loạn trầm càm [25]. Trình độ học vấn của bố mẹ có liên quan chặt chẽ đển nguy cơ trầm cảm của con. Sinh viên có mẹ từng học đại học thì ít có triệu chứng trầm cảm hơn sinh viên có mẹ chưa từng học đại học. Điều này có thể giải thích do mẹ từng học đại học có kinh nghiệm hơn trong việc hỗ trợ con cái mình [18], Nghiên cứu của tác giả Trần Bình Thắng trên sinh viên Đại học Y Dược Huế cũng cho kết quả là việc cha mẹ li dị hoặc li thân, mẹ làm nghề nông có liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở con [15], Còn trong nghiên cứu cùa tác già Trần Quỳnh Anh, việc cha mẹ bất đồng dẫn tới nguy trầm cảm của con chiếm tới 29,1% [21], 5 Nghiên cứu của Tabassum Alivi và các cộng sự chỉ ra rằng học tập căng thẳng có liên quan đen rối loạn trầm cảm, đặc biệt là những sinh viên theo học ờ năm thứ hai.