Luận văn dấu hiệu trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở sinh viên năm thứ nhất trường đại học bách khoa hà nội năm 2018

Nghiên cứu dấu hiệu trầm cảm và các yếu tố liên quan ở sinh viên năm nhất Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 2018, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sức khỏe tâm lý.

Trường đại học

Đại học Bách Khoa Hà Nội

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2019

61
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

1. TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

3. KHUNG LÝ THUYẾT

4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

4.1. Xác định tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 2019

4.2. Xác định một số yếu tố liên quan đến dấu hiệu trầm cảm của sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 2019

5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. Đối tượng nghiên cứu

5.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Dấu Hiệu Trầm Cảm Ở Sinh Viên Năm Nhất

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc biệt trong nhóm sinh viên năm nhất. Theo nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên gặp phải các dấu hiệu trầm cảm dao động từ 8% đến 20%. Sinh viên năm nhất thường phải đối mặt với nhiều áp lực từ học tập, môi trường sống mới và các mối quan hệ xã hội. Những yếu tố này có thể dẫn đến sự xuất hiện của các triệu chứng trầm cảm, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và học tập của họ.

1.1. Triệu Chứng Trầm Cảm Ở Sinh Viên

Các triệu chứng trầm cảm ở sinh viên bao gồm cảm giác buồn chán, mất hứng thú, khó tập trung và cảm giác tội lỗi. Những triệu chứng này có thể làm giảm khả năng học tập và ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của sinh viên.

1.2. Nguyên Nhân Gây Ra Trầm Cảm Ở Sinh Viên Năm Nhất

Nguyên nhân chính gây ra trầm cảm ở sinh viên năm nhất bao gồm áp lực học tập, sự thay đổi môi trường sống và kỳ vọng từ gia đình. Những yếu tố này có thể tạo ra cảm giác cô đơn và thiếu hỗ trợ, dẫn đến tình trạng trầm cảm.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Liên Quan Đến Trầm Cảm

Sinh viên năm nhất thường gặp nhiều thách thức trong việc thích nghi với môi trường học tập mới. Áp lực từ việc học, sự cô đơn và các mối quan hệ xã hội có thể làm gia tăng nguy cơ trầm cảm. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên không hài lòng với kết quả học tập có nguy cơ cao hơn bị trầm cảm.

2.1. Tác Động Của Áp Lực Học Tập Đến Tâm Lý Sinh Viên

Áp lực học tập có thể dẫn đến cảm giác căng thẳng và lo âu, làm tăng nguy cơ trầm cảm. Sinh viên thường phải đối mặt với khối lượng bài vở lớn và kỳ vọng cao từ gia đình và xã hội.

2.2. Sự Khác Biệt Giữa Trầm Cảm Và Stress

Trầm cảm và stress có những biểu hiện khác nhau. Trong khi stress thường là phản ứng tạm thời với áp lực, trầm cảm là một rối loạn kéo dài và cần được điều trị. Việc nhận biết sự khác biệt này là rất quan trọng để có biện pháp can thiệp kịp thời.

III. Phương Pháp Nhận Biết Dấu Hiệu Trầm Cảm

Việc nhận biết sớm các dấu hiệu trầm cảm là rất quan trọng để có thể can thiệp kịp thời. Các phương pháp như khảo sát tâm lý và phỏng vấn có thể giúp phát hiện sớm tình trạng này. Sử dụng thang đo CES-D là một trong những cách hiệu quả để đánh giá mức độ trầm cảm ở sinh viên.

3.1. Cách Nhận Biết Trầm Cảm Qua Thang Đo CES D

Thang đo CES-D giúp đánh giá các triệu chứng trầm cảm thông qua các câu hỏi về cảm xúc và hành vi trong thời gian gần đây. Điểm số cao cho thấy nguy cơ trầm cảm cao.

3.2. Phương Pháp Tư Vấn Tâm Lý Cho Sinh Viên

Tư vấn tâm lý có thể giúp sinh viên nhận diện và xử lý cảm xúc của mình. Các buổi tư vấn có thể cung cấp không gian an toàn để sinh viên chia sẻ và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu về trầm cảm ở sinh viên năm nhất Đại học Bách Khoa Hà Nội đã chỉ ra rằng có một tỷ lệ đáng kể sinh viên gặp phải các dấu hiệu trầm cảm. Kết quả này nhấn mạnh sự cần thiết phải có các chương trình hỗ trợ tâm lý cho sinh viên, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển tiếp này.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tỷ Lệ Trầm Cảm

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên năm nhất có dấu hiệu trầm cảm lên đến 24,8%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

4.2. Các Chương Trình Hỗ Trợ Tâm Lý Tại Trường

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ tâm lý cho sinh viên, bao gồm các buổi hội thảo và tư vấn cá nhân. Những chương trình này giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về sức khỏe tâm thần của mình.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Chủ Đề Trầm Cảm

Trầm cảm là một vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm trong cộng đồng sinh viên. Việc nâng cao nhận thức và cung cấp hỗ trợ kịp thời có thể giúp giảm thiểu tác động của trầm cảm đến sinh viên. Tương lai cần có nhiều nghiên cứu hơn để hiểu rõ hơn về tình trạng này và tìm ra các giải pháp hiệu quả.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Nâng Cao Nhận Thức

Nâng cao nhận thức về trầm cảm trong cộng đồng sinh viên là rất quan trọng. Các hoạt động truyền thông có thể giúp sinh viên hiểu rõ hơn về triệu chứng và cách tìm kiếm sự giúp đỡ.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Trong Nghiên Cứu Trầm Cảm

Cần có nhiều nghiên cứu hơn về trầm cảm ở sinh viên, đặc biệt là trong các ngành kỹ thuật. Những nghiên cứu này sẽ giúp phát triển các chương trình hỗ trợ phù hợp và hiệu quả hơn.

14/07/2025
Luận văn dấu hiệu trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở sinh viên năm thứ nhất trường đại học bách khoa hà nội năm 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Xã hội ngày càng phát triển, áp lực cuộc sổng ngày càng nhiều khiến con người phải chịu những rối loạn tâm thần có xu hướng gia lăng trong đó có trầm cảm. Theo Tổ chức Y tể Thế giới (WHO), trầm cảm là một rối loạn về cảm xúc, có đặc điểm chung là bệnh nhân thấy buồn chán, mất sự hứng thú, cảm thấy tội lỗi hoặc giảm giá trị bản thân, khó ngủ hoặc sự ngon miệng, khả năng làm việc kém và khó tập trung. Trầm cảm có thể trở thành mãn tính hoặc tái phát và làm giảm khả năng của cá nhân trong thích úng với cuộc sổng, trong trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn tới tự sát [5]. Trầm cảm được đặc trưng bởi 5 dấu hiệu là: Giảm khí sắc (tức có trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán chường u uất) - Sự đánh giá âm tính và thái độ bi quan đối với tương lai - Biểu hiện tính thụ động và giảm hoạt tính - Mất hứng thú và xu hướng tự hủy hoại - Những rối loạn về thần kinh thực vật và một số biểu hiện sinh học (sút cân, giảm dục năng, ít ngủ, thức giấc sớm, sũng sờ) [22].

Hầu hểt các ca bệnh trầm cảm có thể điều trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý [7]. Trầm cảm hiện đang là một rối loạn tàm thần phổ biến và có tầm quan trọng đặc biệt ở hầu hết các quốc gia trên the giới. Theo ước tính mới nhất của WHO, hơn 300 triệu người đang sống với trầm cảm, tăng hơn 18% trong giai đoạn 2005-2015 [42], [43]. Theo dự đoán năm 2020 trầm cảm đúng thứ 2 trong các nguyên nhân gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu và đen năm 2030, đây sẽ là nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [40], [41].

Tại Việt Nam, theo Báo cáo kểt quả điều tra quốc gia về Vị thành niên Việt Nam lần II năm 2009 (SAW II) cho biết, trong sổ hơn 10000 thanh thiếu niên được điều tra tại Việt Nam ở độ tuổi từ 14 đến 25 tuổi, có 73,1% người trả lời từng có cảm giác buồn chán, có 27,6% thanh thiếu niên đã trải qua cảm giác rất buồn hoặc cảm thấy mình không có ích đến nỗi không muốn hoạt động như bình thường. Tỷ lệ thanh thiếu niên cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tương lai là 21,3% và có 4,1% đã tùng nghĩ đến chuyện tự tử. So sánh với SAW I chì xét riêng cảm giác nghĩ đến chuyện tự từ, mức độ tăng đã tăng lên khoảng 30% [2] Trong những năm gần đây, tỷ lệ sinh viên đại học gặp phải các vấn đề sức khỏe tâm thần đang tăng lên ở nhiều nước trên thế giới, trong đó chủ yếu là các chứng tràm cảm, lo âu [37]. Nghiên cứu cùa Mancevska và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 354 sinh viên y khoa năm thứ nhất và năm thứ hai Trường Y khoa Đại học Skopje, Cộng hòa Macedonia.

Nhóm tác giả sử dụng thang đo Beck, điểm cat 17 để xác định mức độ rối loạn trầm cảm; thang đo Taylor Manifest Anxiety Scale (TMAS) de xác định các triệu chúng lo âu với điểm cắt 16. Kết quà nghiên cứu cho thấy 10,4% sinh viên có dấu hiệu trầm cảm; 65,5% sinh viên có triệu chúng lo âu [32], Một nghiên cứu về trầm cảm của Yuquing Song và các cộng sự tiến hành trên 988 sinh viên năm nhất trường 3 Đại học Bắc Kinh và 802 sinh viên năm nhất Đại học Hồng Kông, sử dụng thang đánh giá CES-D điểm cắt 16. Kết quả nghiên cửu chì ra rằng có 24,8% sinh viên năm nhất ở Bắc Kinh có dấu hiệu trầm cảm với điểm số ưên CES-D vượt quá 16, trong đó 8,9% có đỉểm số 25 hoặc cao hơn. Khoảng 43,9% sinh viên năm thứ nhất ở Hồng Kông có dấu hiệu trầm càm với điểm số trên CES-D vượt quá 16, trong đó 17,6% có diem số 25 hoặc cao hơn [36].

Một số nghiên cứu về trầm cảm học đường của sinh viên Việt Nam như nghiên cứu Stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên y khoa Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 của tác giả Trần Kim Trang trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt, sử dụng thang đánh giá DASS-21 với điềm cắt 10-13 điềm là trầm cảm nhẹ, 14-20 điểm là trầm cảm vừa, 21-27 điểm là trầm cảm nặng. Kết quả nghiên cứu này chì ra rằng tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm là 28,8% [16]. Một nghiên cửu khác của tác giả Nguyễn. Thị Hưởng được tiến hành trên 400 sinh viên năm thứ 2, sử dụng thang đo CES-D, điểm cắt 22 đã đưa ra tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm là 49,5 % [14].

Nghiên cửu khác về trầm cảm cũng sử dụng thang đo CES-D, với điểm cắt 16 cùa tác giả Trần Quỳnh Anh cùng cộng sự trên một quy mô rộng hơn với 2099 sinh viên hệ Bác sĩ Đa khoa năm thứ 1, 3 và 5 tại 8 trường Y Dược trên cả nước đã đưa ra kết quà tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm là 43,2% [21]. Trong nghiên cứu Thực trạng rối loạn trầm cảm và một số yếu tố liên quan của sinh viên Trường Đại học Y Khoa Vinh năm 2013, tác giả Phan Thị Diệu Ngọc đã chỉ ra tỷ lệ sinh viên bị trầm cảm nhẹ: 31,2 %, vừa 29,8 % và nặng 4,3 % bằng công cụ là thang đo Beck rút gọn [9]. Tuy nhiên đổi tượng của các nghiên cửu này ỉà sinh viên các ngành y khoa, kinh tế. Hiện nay chưa có các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của sinh viên khối kĩ thuật.

Trầm cảm là một rối loạn phức tạp và không chỉ có một nguyên nhân riêng rẽ để phát sinh bệnh. Yeu tố cả nhân bao gồm các yếu tố về đặc điềm nhân khẩu học, tỉnh cách cá nhân hành vi, lối sống cá nhân đã được nhiều nghiên cứu chứng minh có mổi liên quan đến việc xuất hiện dẩu hiệu trầm cảm. Tính dễ bị tổn thương của phụ nữ đối với trầm cảm đã được nghiên cứu rất nhiều [8], [12]. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hưởng, tỷ lệ sinh viên nữ có nguy cơ trầm cảm cao hơn sinh viên nam khoảng 10% [13].Tuổi đóng vai trò quan trọng trong trầm cảm, Nhóm tuổi có nguy cơ rối loạn khí sắc cao là nhóm từ 45-64 tuổi, trong khi đó các rối loạn trầm cảm điển hình lại thường gặp ở lứa tuổi từ 18-44, trong đó lứa tuổi từ 14-18 chiếm khoảng 18,5% rối loạn hầm cảm, ở thanh thiếu niên trứơc dậy thì là 0,5% [40], Mối liên quan giữa lối sống và tràm cảm ở sinh viên cũng được khẳng định trong một số nghiên cứu.

Một nghiên cứu được tiến hành trên 3000 sinh viên đại học ở Mĩ phát hiện ra rằng, hút thuốc ỉá và thường xuyên uống rượu bia có liên quan đến tăng nguy cơ trầm càm và lo âu [24]. Hút 4 thuốc lá cũng được xác định là một hành vi nguy cơ cao liên quan đến triệu chứng trầm cảm [23], Những sinh viên có dấu hiệu trầm cảm nặng hút nhiều số điếu thuốc trong ngày nhiều hơn nhũng người có dấu hiệu trầm cảm nhẹ [23], Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng những người hút thuốc lá có biểu hiện rối loạn trầm cảm cao hơn những người không hút thuốc lá [35], Theo nghiên cứu của tác giả Phan Thị Diệu Ngọc tại Đại học Y khoa Vinh, những sinh viên đánh giá tình trạng sức khỏe của bản thân yếu và không được khỏe có nguy cơ bị trầm càm vừa và nặng cao gap 2,2 lần so với sinh viên đánh giá bản thân khỏe mạnh hoặc hoàn toàn khỏe mạnh [9], Nghiên cứu của tác giả Trần Quỳnh Anh và cộng sự cũng chỉ ra ràng nguy cơ trầm cảm của sinh viên liên quan đến vấn đề khó khăn về nơi ở chiếm 16%, khăn về tài chính chiếm 8,1% [21], Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Mai cũng cho tỉ lệ có nguy bị trầm cảm ở nhóm không thường xuyến tập thể dục/thể thao cao hơn nhóm thường xuyên tập thể dục thể thao, tương tự ti lệ có nguy cơ bị trầm cảm ở nhỏm hút thuốc lá, chơi game online cũng cao hơn so với nhỏm không hút thuốc lá, không chơi game online. Nghiên cứu này cũng chì ra, việc những sinh viên không bao giờ tham gia hoạt động ngoại khóa có nguy cơ bị trầm cảm gấp 2,3 lần so với những sinh viên thỉnh thoảng hoặc thường xuyên tham gia các hoạt động ngoại khóa [8] Các sự kiện gây căng thẳng trong gia đình là yếu tố thuận lợi để phát sinh rối loạn trầm càm như hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khãn, mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình,., Nghiên cứu Dấu hiệu trầm cảm và một số yếu tố liên quan ờ một số khối sinh viên đa khoa Trường Đại học Y Dược Hài Phòng, tác giả Nguyễn Hoàng Việt Đức đã chỉ ra rang dấu hiệu trầm cảm ở nhóm sinh viên gặp rắc rối với ba mẹ cao gấp 2,56 lần nhóm không gặp rắc rối với ba mẹ. Các yếu tổ gây căng thẳng trong gia đình không chỉ xuất phát từ trong gia đình, mà nó còn do bổ mẹ mang về từ công sở, do con cái mang về từ trường học và do môi trường sống tự nhiên và xã hội mang đến [19], [27], Sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè rất quan trọng cho sự thành công trong quá trình học tập và cuộc sống của sinh viên.

Sinh viên càng nhận được nhiều sự hỗ trợ từ gia đình gia đình bạn bè thì càng ít nguy cơ mắc rối loạn trầm càm [25]. Trình độ học vấn của bố mẹ có liên quan chặt chẽ đển nguy cơ trầm cảm của con. Sinh viên có mẹ từng học đại học thì ít có triệu chứng trầm cảm hơn sinh viên có mẹ chưa từng học đại học. Điều này có thể giải thích do mẹ từng học đại học có kinh nghiệm hơn trong việc hỗ trợ con cái mình [18], Nghiên cứu của tác giả Trần Bình Thắng trên sinh viên Đại học Y Dược Huế cũng cho kết quả là việc cha mẹ li dị hoặc li thân, mẹ làm nghề nông có liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở con [15], Còn trong nghiên cứu cùa tác già Trần Quỳnh Anh, việc cha mẹ bất đồng dẫn tới nguy trầm cảm của con chiếm tới 29,1% [21], 5 Nghiên cứu của Tabassum Alivi và các cộng sự chỉ ra rằng học tập căng thẳng có liên quan đen rối loạn trầm cảm, đặc biệt là những sinh viên theo học ờ năm thứ hai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Dấu Hiệu Trầm Cảm Ở Sinh Viên Năm Nhất Đại Học Bách Khoa Hà Nội cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng trầm cảm mà sinh viên năm nhất có thể gặp phải trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng này. Tài liệu nêu rõ các dấu hiệu nhận biết trầm cảm, từ cảm xúc buồn bã, lo âu đến sự thay đổi trong hành vi và thói quen sinh hoạt. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này không chỉ giúp sinh viên tìm kiếm sự hỗ trợ kịp thời mà còn nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần trong cộng đồng học đường.

Để mở rộng thêm kiến thức về sức khỏe tâm thần, bạn có thể tham khảo tài liệu Thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của học sinh một trường trung học phổ thông tại thành phố nam định tỉnh nam định năm 2021, nơi cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh trung học. Ngoài ra, tài liệu Phân tích thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện tâm thần nghệ an sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị tâm lý. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu tình trạng trầm cảm sau sinh và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại thành phố cần thơ năm 2019 2020 cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về trầm cảm trong các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe tâm thần và các vấn đề liên quan.