Chương 1: Giới thiệu đề tài Chƣơng này bao gồm giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu; trình bày nội dung nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; xác định đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, đồng thời nêu cấu trúc nghiên cứu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý luận và một số khái niệm cơ bản Chƣơng này trình bày cơ sở lý thuyết làm nền tảng để thực hiện đề tài nhƣ một số lý thuyết về hành vi và tập quán. Trình bày một số khái niệm liên quan đến đề tài và những chính sách mà nhà nƣớc ta đang áp dụng trên nƣớc Việt nam nói chung và địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói riêng. 123doc 7 Chương 3: Đặc điểm địa bàn và Phương pháp nghiên cứu Chƣơng này nêu những phƣơng pháp, mô hình đƣợc áp dụng trong đề tài.
Xác định mẫu nghiên cứu, xây dựng thang đo, bảng câu hỏi và cách thực hiện thu thập số liệu cũng nhƣ phỏng vấn lấy thông tin. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Chƣơng này trình bày các kết quả đạt đƣợc trong quá trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng sử dụng rƣợu, bia trên địa bàn thành phố Sóc Trăng. Thông qua những kết quả nghiên cứu này tiến này trả lời câu hỏi số 1 “Thực trạng tiêu dùng rƣợu, bia trên địa bàn thành phố Sóc Trăng nhƣ thế nào (đối tƣợng, độ tuổi, địa điểm, môi trƣờng…nào tiêu dùng nhiều nhất)? mức độ lạm dụng rƣợu, bia nhƣ thế nào?” và câu hỏi số 2 “Nguyên nhân của thực trạng nêu trên? Sự hiểu biết của ngƣời tiêu dùng về tác hại của lạm dụng rƣợu, bia? Tại sao có nhiều tác hại vẫn xảy ra vấn nạn lạm dụng rƣợu, bia?” Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp Bằng những kết quả và phân tích ở chƣơng 4 sẽ đƣa ra kết luận cho nghiên cứu này cũng nhƣ đƣa ra giải pháp bằng cách trả lời cho câu hỏi số 3 “Những giải pháp nhằm tăng cƣờng hiệu quả công tác ph ̣ng ch ống lạm dụng rƣợu, bia và giảm tác hại của việc lạm dụng rƣợu, bia nào có thể áp dụng?” 123doc 8 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm và thông tin liên quan đến nghiên cứu: Theo thành phần và cấu tạo hóa học thì “Rƣợu là một hợp chất hữu cơ chứa cacbon, hydro và oxy với công thức C2H6O”.
Theo WHO các loại đồ uống có chứa cồn đƣợc chế biến qua quá trình lên men và chƣng cất, đƣợc chia làm 3 loại nhƣ sau: - Bia: thƣờng có độ cồn 5% - Rƣợu nhẹ: thƣờng có độ cồn từ 12-5% - Rƣợu mạnh: có độ cồn khoảng 40% Đơn vị rƣợu/ cốc/ chén chuẩn là một đơn vị đo lƣờng dùng để quy đổi các loại rƣợu, bia với nồng độ khác nhau. Theo WHO thì 1 dơn vị rƣợu/ cốc/ chén chuẩn tƣơng đƣơng 10g rƣợu nguyên chất chứa trong dung dịch uống và tƣơng đƣơng với 1 lon bia 330ml 5%, 1 cốc rƣợu vang 125ml nồng độ 11%, 1 ly rƣợu vang mạnh 75ml nồng độ 20%, 1 chén rƣợu mạnh 40ml nồng độ 40%. Rƣợu, bia đƣợc sản xuất nhờ quá trình lên men tinh bột hoặc đƣờng có nhiều trong hoa quả và ngũ cốc.(Nguồn: Hoàng Thị Phƣợng, 2009. Thực trạng, các yếu tố ảnh hƣởng và tác hại của lạm dụng rƣợu bia ở một số vùng sinh thái của Việt Nam.
Luận án Tiến sỹ. Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ƣơng) 2. Khái niệm về nhận thức: Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức đƣợc định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con ngƣời, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con ngƣời, nhờ đó con ngƣời tƣ duy và không ngừng tiến đến gần khách thể.
Theo quan điểm của phép tƣ duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con ngƣời đi từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng, và từ tƣ duy trừu 123doc 9 tƣợng đến thực tiễn. Con đƣờng nhận thức đó đƣợc thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tƣợng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong. Khái niệm về thái độ: Thái độ là những phát biểu hay những đánh giá có giá trị về sự vật, con ngƣời hay đồ vật.Thái độ phản ánh con ngƣời cảm thấy nhƣ thế nào về một điều nào đó. Thái độ cụ thể hơn giá trị, và bất cứ thái độ nào cũng liên quan đến một số giá trị nào đó.
Nếu nhƣ giá trị có tính ổn định cao thì thái độ lại ít ổn định hơn.1 Mô hình thái độ và hành vi 123doc 10 Nguồn: McShane S. và Von Glinow M. Khái niệm về hành vi: Mỗi cá nhân đều sống trong một tập thể xã hội và có quan hệ với những ngƣời xung quanh trong những mối tác động qua lại nhất định. Sự tác động qua lại giữa ngƣời này với ngƣời khác, hay giữa con ngƣời với các sự việc, hoàn cảnh xung quanh đƣợc thể hiện bởi một hành động đơn lẻ hay các hành động phối hợp đƣợc gọi là hành vi.
Nhƣ vậy hành vi của con ngƣời đƣợc hiểu là một hành động hay nhiều hành động phức tạp trước một sự việc, hiện tượng mà các hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan và khách quan. Có rất nhiều yếu tố có thể tác động đến hành vi của một ngƣời nhƣ trình độ văn hóa, phong tục tập quán cộng đồng, kinh tế xã hội, chính trị, luật pháp, nguồn lực, kỹ năng, phƣơng tiện kỹ năng, thông tin…Mỗi hành vi của một ngƣời là biểu hiện của các yếu tố cấu thành nên nó, đó là kiến thức, niềm tin, thái độ, cách thực hành (hay kỹ năng) của ngƣời đó trong một hoàn cảnh hay tình huống cụ thể nào đó. Một hành vi có thể thấy ở một cá nhân, cũng có thể thấy trong thực hành của một nhóm cá nhân hay cả một cộng đồng. Hành vi đƣợc lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài có thể trở thành thói quen.
Khái niệm về hành vi và hành vi sức khỏe.com/content/2/219/0/4/images/13. Lý thuyết hành vi liên quan Lý thuyết hành vi vấn đề (PBT) (Jessor, 1987, 1991, 1998; Jessor & Jessor, 1977) Hành vi vấn đề là hành vi đƣợc xã hội định nghĩa nhƣ là một vấn đề, nhƣ là một nguồn quan tâm, hoặc là không mong muốn bởi các chuẩn mực xã hội hoặc pháp luật của xã hội và các tổ chức của cơ quan; đó là hành vi mà thƣờng gợi lên một số hình thức phản ứng kiểm soát xã hội, dù nhỏ nhất, chẳng hạn nhƣ một tuyên bố không chấp thuận, hoặc cực đoan. Các lý thuyết về hành động lý luận cho rằng ý định (động lực) để thực hiện một hành vi nhất định phụ thuộc vào việc cá nhân đánh giá các hành vi nhƣ tích cực (thái độ), và nếu họ phán xét ngƣời khác nhƣ họ muốn thực hiện hành vi (tiêu chuẩn 123doc 11 chủ quan). Lý thuyết hành vi vấn đề (Jessor, 1987, 1991, 1998; Jessor & Jessor, 1977) xây dựng dựa trên lý thuyết này và cho rằng tất cả các hành vi không đƣợc thực hiện dƣới sự kiểm soát có mục đích và hành vi có thể đƣợc thực hiện trên một sự liên tục từ tổng kiểm soát để hoàn thành thiếu kiểm soát.
Cả hai yếu tố nội bộ (kỹ năng nhận thức, kiến thức, cảm xúc) và các yếu tố bên ngoài (tình huống hoặc môi trƣờng) xác định mức độ kiểm soát. Các hành vi uống rƣợu quá mức và lái xe khi đã uống rƣợu đều có thể gây nguy hiểm cho bản thân và xã hội đều coi nhƣ hành vi có vấn đề. Lý thuyết này phân tích những vấn đề liên quan đến hành vi và từng hành vi có vấn đề. Ví dụ nhƣ lái xe trong tình trạng thiếu tỉnh táo sau khi uống rƣợu bia, phải đƣợc xem xét trong hệ thống phức hợp của hành vi vừa có khả năng thích ứng vừa có vấn đề nhân cách và môi trƣờng nhận thức.
Bằng cách xử lý mọi hành vi (không chỉ riêng với hành vi uống rƣợu), những tai nạn và vấn đề liên quan sẽ giảm đáng kể. Lý thuyết hành vi dự kiến (TPB) (Ajen 1985, 1991; Ajzen & Fishbein, 2005) Lý thuyết về hành vi quy hoạch nhấn mạnh rằng hành vi của con ngƣời bị chi phối không chỉ bởi thái độ cá nhân, mà còn bởi các áp lực xã hội và cảm giác kiểm soát. Mô hình này, khi kết hợp với một vài thay đổi, có thể tạo ra một số dự đoán hấp dẫn. Ví dụ, cá nhân có nhiều khả năng để thực hiện chứ không phải bỏ qua ý định của họ, chẳng hạn nhƣ một kế hoạch để tránh rƣợu, nếu họ thể hiện những kế hoạch trên nhiều hơn một lần (Cooke & Sheeran, 2004).
Lý thuyết về hành vi của kế hoạch giả định rằng những cân nhắc hợp lý chi phối việc lựa chọn và hành vi của các cá nhân (Ajzen, 1985; Ajzen, 1991; Ajzen & Fishbein, 2005). Cụ thể, theo một tiền chất của lý thuyết này, đƣợc gọi là lý thuyết về hành động lý luận, hành vi đƣợc xác định bởi những ý định của cá nhân - kế hoạch rõ ràng của họ hoặc động lực để thực hiện một hành động cụ thể. Ví dụ, ý định bỏ hút thuốc lá dùng để chỉ một cam kết rõ ràng để kiêng này. 123doc 12 Những ý một phần, nhƣng không hoàn toàn, phản ánh thái độ cá nhân của cá nhân, mà là mức độ mà họ cảm nhận đƣợc hành động này nhƣ mong muốn hay không thuận lợi.
Những thái độ này phản ánh tín ngƣỡng cả nhận thức về hành vi, chẳng hạn nhƣ cho dù họ tin rằng hút thuốc là có hại, cũng nhƣ tình cảm đánh giá, chẳng hạn nhƣ việc họ cảm thấy rằng hút thuốc là không phù hợp. Lý thuyết nhận thức – hành vi Các quan điểm về hành vi và nhận thức xuất phát từ hai dòng tác phẩm tâm lý học có liên quan. Về mặt lịch sử, lý thuyết học hỏi xuất hiện đầu tiên và phát triển trong TLH lâm sang sử dụng trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của TLH. Sheldon (1995) biểu đạt bản chất của lý thuyết này là việc tách biệt ý thức và hành vi.
Các quan điểm tâm động học và quan điểm truyền thống lại cho rằng hành vi xuất phát từ một quá trình thực hiện theo ý thức của chúng ta, điều này có nghĩa là hành vi của con ngƣời xuất hiện dựa trên ý thức của họ. Nhƣng lý thuyết học hỏi cho rằng chúng ta không thể biết đƣợc điều gì đang xảy ra trong ý thức của ai đó.