MỞ ĐẦU Hiện nay, vấn đề an sinh xã hội và an ninh quốc phòng là nhiệm vụ rất quan trọng đối với toàn xã hội, đặc biệt đối với các lực lượng vũ trang cũng như các lực lượng cứu hộ cứu nạn [1, 2]. Chính vì vậy nhu cầu sử dụng chó nghiệp vụ càng trở nên quan trọng, cần thiết trong thực thi nhiệm vụ. Trong khi đó những giống chó làm nghiệp vụ ở nước ta chủ yếu là chó nhập nội với giá thành cao, khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu ở Việt Nam kém. Mặt khác những con lai không rõ nguồn gốc không phát huy được những tính trạng mong muốn trong việc huấn luyện làm chó nghiệp vụ.
Các nguồn gen chó bản địa có tính thích nghi, chống chịu bệnh tật và khả năng sống trong điều kiện Việt Nam là tốt nhất, nhiều nguồn gen chó bản địa còn có giá trị về kinh tế, an ninh quốc phòng như chó bản địa H'mông cộc đuôi, giống chó Bắc Hà, đã và đang được khai thác sử dụng làm chó nghiệp vụ phục vụ cho lực lượng công an địa phương [3]. Song với thực trạng nhân nuôi chó tại Việt Nam, các giống chó bản địa có nguy cơ bị pha tạp bởi các nguồn gen nhập ngoại và bị pha tạp bởi chính các nguồn gen nội địa do công tác quản lý nhân giống chó chưa thực sự quan tâm [4]. Trước tình hình đó việc bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn gen giống chó bản địa càng trở nên cấp bách. Với những kết quả nghiên cứu ban đầu của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga cho thấy, chó bản địa Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu làm chó nghiệp vụ [1, 2].
Chó bản địa H'mông cộc đuôi được các chuyên gia khuyển học đánh giá rất cao về khả năng thực hiện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy. Tuy nhiên việc nghiên cứu về các đặc điểm sinh học của chó H'mông cộc đuôi chưa đồng bộ, chưa xác định được sự ảnh hưởng của chúng đến khả năng làm việc. Để bổ sung cơ sở dữ liệu phục vụ công tác nhân giống, huấn luyện và sử dụng chó bản địa H'mông cộc đuôi, nghiên cứu sinh đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của chúng trong huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được các đặc điểm sinh học, sinh thái, hành vi của chó bản địa H'mông cộc đuôi phục vụ cho huấn luyện chuyên khoa lùng sục phát hiện các chất ma túy; - Xây dựng được tiêu chí tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi thực hiện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy.
2 Nội dung nghiên cứu - Điều tra khảo sát, bổ sung đặc điểm phân bố, sinh học, sinh thái của chó bản địa H’mông cộc đuôi; - Nghiên cứu đặc điểm hành vi của chó bản địa H’mông cộc đuôi; - Khả năng huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy của chó bản địa H'mông cộc đuôi; - Xây dựng tiêu chí tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy. Những đóng góp mới của luận án - Lần đầu tiên cung cấp một cách hệ thống về đặc điểm phân bố, hình thái, sinh thái, sinh lý của chó bản địa H'mông cộc đuôi ở Việt Nam, làm cơ sở cho việc tuyển chọn giống chó có khả năng lùng sục phát hiện các chất ma túy; - Lần đầu tiên cung cấp các dẫn liệu khoa học làm cơ sở cho việc xây dựng các nhóm tiêu chí để chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi phục vụ cho huấn luyện lùng sục phát hiện các chất ma túy; - Dựa trên cơ sở sinh thái học, sinh học giúp cho việc xây dựng quy trình chăm sóc, huấn luyện các giống chó bản địa khác trong huấn luyện nghiệp vụ. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Ý nghĩa hoa học Đây là nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống mô tả cụ thể đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, đặc điểm sinh lý cũng như đặc điểm thần kinh. Trên cơ sở đó huấn luyện thử nghiệm chuyên khoa lùng sục phát hiện các chất ma tuý.
Từ đó lần đầu tiên đưa ra được tiêu chí cơ bản để tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi làm chó nghiệp vụ. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cơ sở khoa học cho công tác chọn lọc nhân giống, bảo tồn chó bản địa H'mông cộc đuôi. Đồng thời cũng là tài liệu làm cơ sở và đối chứng với các nghiên cứu sau trong lĩnh vực khuyển học. Kết quả nghiên cứu còn đưa ra các tiêu chí cơ bản để tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi phục vụ huấn luyện lùng sục phát hiện các chất ma túy.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Nguồn gốc và thuần hóa chó nhà Chó nhà (Canis familiaris) là một trong những loài thuộc bộ ăn thịt (Carnivora), họ chó (Canidae). Bộ ăn thịt được biết đến có khoảng 35 loài được tách ra cách đây từ mười triệu năm [5, 6]. Chó nhà được coi là hậu duệ của chó sói đã được thuần hóa, có họ hàng gần nhất với sói xám hiện đại [7, 8], loài chó này chỉ khác nhau 0,04% về trình tự DNA mã hóa hạt nhân của nó [9, 10, 11].
Trong hệ thống phân loại, chó nhà được coi là một loài Canis familiaris Linnaeus, 1578. Tuy nhiên do quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo đã tạo nên các kiểu hình của chó vô cùng đa dạng [12], từ đây thuật ngữ “giống chó” đã được xuất hiện. Mỗi giống chó có hình thái đặc trưng riêng [13, 14], và khả năng làm việc rất khác nhau tạo thành các dòng chó chuyên biệt [15]. Bởi vậy trong hệ thống phân loại các giống chó, thường gọi thực chất không phải là giống (genus) mà chỉ là một dạng kiểu hình, dạng, nòi (phenotype, type, race), nhưng đây là giống vật nuôi (breed), do vậy thống nhất tên gọi là giống chó (breed of domestic dog) [16].
Hiện nay, có hơn 400 giống chó đã được đăng ký trên hệ thống của hiệp hội nhân nuôi chó thế giới (FCI) [17] được xếp vào 10 nhóm dựa vào kích thước, kiểu hình cũng như mục đích sử dụng khác nhau [18 - 22]. Về nguồn gốc của chó nhà vẫn còn có những quan điểm khác nhau. Hiện nay đang tồn tại 2 quan điểm: thứ nhất chó nhà có 1 tổ tiên là chó sói, quan điểm thứ 2 cho rằng chó nhà có đa tổ tiên, tức là chó nhà được hình thành từ nhiều loài ăn thịt khác nhau tuỳ thuộc vào khu vực địa lý đặc trưng. Với sự phát triển của khoa học và công nghệ di truyền phân tử, nguồn gốc chó nhà ngày càng được làm sáng tỏ.
Năm 1997, lần đầu tiên các nhà di truyền học nghiên cứu đoạn gen trên vùng kiểm soát ty thể của chó nhà và chó sói, đã kết luận rằng hai dòng này đã tách ra từ 135. Kết quả so sánh toàn bộ hệ gen chó nhà và chó sói của Wang và Freedman đều khẳng định mối quan hệ họ hàng xa giữa chó nhà và chó sói. Tuy nhiên, Wang (2013) cho rằng chó nhà và chó sói đã tách ra từ 32. Trong khi đó Freedman và cộng sự (2014, 2017) có những phân tích lập luận chặt chẽ đã chỉ ra sự phân chia của chó nhà và chó sói vào khoảng từ 11.
Cũng có một số nghiên cho rằng, quá trình thuần hóa đã bắt đầu từ hơn 25.000 năm trước, trong một hoặc một số quần thể chó sói ở châu Âu, Bắc Cực hoặc Đông Á [27]. 4 Perri và cộng sự đưa ra một tài liệu về các bằng chứng hiện tại cho thấy loài chó nhà đã được thuần hóa ở Siberia cách đây 23.000 năm bởi những người Bắc Siberia cổ đại, sau đó phân tán về phía Đông sang châu Mỹ và về phía Tây qua Âu - Á [28]. Quá trình thuần hoá chó nhà diễn ra từ rất sớm, chó nhà được coi là một trong những động vật đầu tiên được con người thuần hoá và nuôi dưỡng. Có những bằng chứng cho rằng, chó là loài đầu tiên được thuần hóa bởi những người săn bắn hái lượm hơn 15.
Chúng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, và nó được coi là một trong những giống vật nuôi [31]; Chó được coi là loài ăn thịt, ăn tạp phong phú nhất sống trong môi trường sống của con người [32, 33]. Vào năm 2013, ước tính số lượng chó trên toàn cầu là từ 700 triệu [34] đến 987 triệu cá thể [35]. Olsen (1977) đã cho rằng chó nhà có nguồn gốc châu Á, nhận định này dựa trên những đặc điểm tương đồng về hình thái giữa chó nhà và chó sói Trung Quốc (C. lupus chanco) và chó sói Tây Tạng (C.
Bên cạnh đó dựa vào kết quả nghiên cứu của Peter Savolainen và Ya-Ping Zhang đã chỉ ra rằng chó nhà tại khu vực Đông Nam Á có mức độ đa dạng di truyền cao nhất và có quan hệ gần gũi với sói xám. Đồng thời các tác giả cũng đưa ra giả thuyết chó nhà được thuần hoá đầu tiên ở Đông Nam Á cách đây 33.000 năm trước chó nhà bắt đầu di cư đến Trung Đông và Châu Phi [37 - 40]. Chó là một trong những loại thức ăn phổ biến trong khẩu phần ăn của con người ở Châu Á [41], các đảo Thái Bình Dương [42, 43] và Bắc Mỹ [44, 45, 46], đặc biệt quan trọng trong những tháng mùa đông lạnh giá. Đây là bước quan trọng trong việc thuần hóa chó của con người.
Với sự phát triển của chăn nuôi gia súc, chó giúp việc là cần thiết trong việc quản lý, chăn thả gia súc thời nguyên thủy. Với nhiệm vụ đầu tiên của chó chăn gia súc là bảo vệ đàn gia súc, vì vậy phải lựa chọn những dạng chó: mạnh, dữ tợn, sức chịu đựng cao, có khả năng chống trả các loài thú ăn thịt khác. Dần dần chó cũng được sử dụng vào các mục đích quân sự nhằm chiến đấu chống lại kẻ thù. Từ đó các giống chó có kích thước lớn được ưu tiên tuyển chọn.
Sự đa dạng hình thức săn bắn và việc sử dụng công cụ, vũ khí cùng với sự chuyên biệt hoá theo con mồi đã dẫn đến sự phong phú và đa dạng trong nhóm chó săn. Đặc điểm hình thái chung của chó nhà Các giống chó khác nhau thì có các đặc điểm về hình dạng, kích thước, màu sắc riêng biệt [15]. Các phát hiện khảo cổ cho thấy rằng những con chó cổ đại có kích thước khác nhau.