Tổng quan nghiên cứu

Sự chuyển dịch từ văn học trung đại kéo dài hơn 10 thế kỷ sang nền văn học hiện đại trong nửa đầu thế kỷ 20 là một bước ngoặt mang tính lịch sử của nền văn học Việt Nam. Nằm trong dòng chảy đổi mới thi pháp nghệ thuật, đề tài nghiên cứu so sánh cách miêu tả ngoại hình nhân vật giữa kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du và hệ thống truyện ngắn hiện thực của nhà văn Nam Cao đại diện cho một hướng tiếp cận loại hình học giàu giá trị học thuật. Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 602234, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Nho Thìn, đã giải quyết thấu đáo vấn đề thi pháp mang tính bản lề này.

Vấn đề cốt lõi của đề tài là làm sáng tỏ sự khác biệt trong cách khắc họa diện mạo con người, từ đó chỉ ra sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người qua hai thời kỳ văn học lớn. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu tập trung khảo sát toàn bộ 3.254 câu thơ lục bát của Truyện Kiều kết hợp với hơn 15 truyện ngắn tiêu biểu giai đoạn 1941 - 1945 của Nam Cao nhằm xác lập các mô hình miêu tả ngoại hình đặc trưng. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian văn hóa Đông Á trung đại và không gian giao lưu văn hóa phương Tây đầu thế kỷ 20. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua việc cung cấp giải pháp sư phạm trực quan, ước tính giúp nâng cao hơn 35% hiệu quả tiếp thu bài học văn học sử cho học sinh và hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu chuyên sâu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 3 hệ thống lý thuyết then chốt: Lý thuyết loại hình học văn học, Lý thuyết thi pháp học lịch sử và Lý thuyết quan niệm nghệ thuật về con người. Dưới góc nhìn loại hình học, văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa khu vực Đông Á và hệ tư tưởng Nho - Phật - Đạo, trong khi văn học hiện đại chịu sự chi phối mạnh mẽ của quá trình hiện đại hóa và tiếp nhận văn hóa phương Tây.

Hệ thống nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm trung tâm bao gồm:

  • Nhân vật văn học: Đơn vị nghệ thuật mang tính ước lệ, phản ánh tư duy thẩm mỹ của nhà văn về cuộc đời.
  • Ngoại hình nhân vật: Tập hợp các yếu tố hữu hình gồm khuôn mặt, vóc dáng, sắc tướng, phục trang và cử chỉ biểu cảm.
  • Bút pháp ước lệ tượng trưng: Hệ thống công thức miêu tả được quy ước sẵn trong cộng đồng tiếp nhận trung đại, lấy vẻ đẹp thiên nhiên làm chuẩn mực tối thượng.
  • Tính cá thể hóa: Thủ pháp nghệ thuật hiện đại tập trung tái hiện chân dung cụ thể, sinh động nhằm thể hiện thế giới nội tâm và bản sắc cá nhân riêng biệt.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát chính bao gồm toàn văn 3.254 câu lục bát của kiệt tác Truyện Kiều và mẫu nghiên cứu gồm 18 truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao như Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Giăng sáng, Một bữa no, Trẻ con không được ăn thịt chó. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn ra những tác phẩm kết tinh cao nhất đặc trưng thi pháp của từng giai đoạn.

Tác giả kết hợp linh hoạt 3 phương pháp phân tích chủ đạo:

  • Phương pháp so sánh loại hình: Nhằm đối chiếu các thủ pháp tạo hình chân dung giữa hai hệ hình văn học.
  • Phương pháp văn hóa học: Đặt cách miêu tả nhân vật vào bối cảnh hệ tư tưởng và môi trường văn hóa thời đại để cắt nghĩa nguyên nhân hình thành thi pháp.
  • Phương pháp xã hội học văn học: Đánh giá mối tương quan giữa hiện thực đời sống xã hội với sự biến chuyển trong cách nhìn nhận con người.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì ngoại hình không chỉ là yếu tố kỹ thuật viết văn thuần túy mà là một phạm trù lịch sử - văn hóa. Quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu được thực hiện chặt chẽ trong suốt tiến trình nghiên cứu kéo dài 24 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng và định tính trên văn bản đã đem lại 4 phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, bút pháp ước lệ thiên nhiên chiếm tỷ lệ tuyệt đối 100% khi miêu tả nhân vật chính diện trong Truyện Kiều. Các hình tượng khuôn trăng, nét ngài, hoa cười, ngọc thốt, làn thu thủy, nét xuân sơn được dùng nhất quán để khắc họa vẻ đẹp lý tưởng của Thúy Vân, Thúy Kiều, Kim Trọng và Từ Hải, phản ánh quan niệm thẩm mỹ lấy vũ trụ làm thước đo phẩm hạnh.

Thứ hai, tồn tại tư duy phân loại rạch ròi trong văn học trung đại khi hơn 85% nhân vật phản diện trong Truyện Kiều như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lại được miêu tả bằng bút pháp tả thực trần tục với những chi tiết cụ thể về tuổi tác, trang phục và diện mạo như mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, nhờn nhợt màu da.

Thứ ba, nghệ thuật tha hóa ngoại hình xuất hiện đậm nét trong truyện ngắn Nam Cao với trên 75% nhân vật nông dân nghèo bị biến dạng diện mạo. Chân dung Chí Phèo với cái đầu trọc lốc, răng cạo trắng hớn, mặt đầy những vết sẹo dọc ngang hay gương mặt xấu ma chê quỷ hờn của thị Nở là những điển hình sinh động cho bi kịch bị hủy hoại nhân hình lẫn nhân tính dưới áp bức xã hội.

Thứ tư, Nam Cao tối giản hóa tối đa việc miêu tả diện mạo ở tuyến nhân vật trí thức, khi chi tiết hình thể chiếm dưới 10% dung lượng văn bản để dành hơn 80% dung lượng cho độc thoại nội tâm và diễn biến tâm lý phức tạp của các nhân vật như Hộ trong Đời thừa hay Thứ trong Sống mòn.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt mang tính bản chất giữa hai cách miêu tả bắt nguồn từ quan niệm nghệ thuật về con người của từng thời đại. Thời trung đại xem con người là con người chức năng trong trật tự luân thường đạo lý, coi trọng phần thần hơn phần hình, dẫn đến việc không chú trọng cá thể hóa diện mạo. Ngược lại, văn học hiện đại thế kỷ 20 chịu tác động từ triết học và văn học phương Tây, tôn vinh con người cá nhân với đầy đủ những nét riêng biệt về tâm sinh lý và hoàn cảnh sống.

Kết quả này bổ khuyết và phát triển sâu sắc các nhận định của nhiều học giả tiền bối như René Crayssac, Đào Duy Anh, Lê Đình Kỵ, Xuân Diệu, đồng thời cụ thể hóa quan điểm về tư duy phân loại của PGS. Trần Nho Thìn. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận so sánh đối sánh hai chiều giữa thi pháp trung đại và hiện đại, kết hợp biểu đồ cột phân bổ tần suất chi tiết ngoại hình giữa hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện, làm nổi bật bước chuyển dịch từ tính quy phạm sang tính hiện đại hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện, tác giả đề xuất 4 khuyến nghị mang tính ứng dụng thực tiễn cao:

Thứ nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng đội ngũ giáo viên Ngữ văn cần đổi mới phương pháp giảng dạy văn học sử thông qua việc đưa nội dung so sánh đối chiếu thi pháp vào chương trình THCS và THPT. Mục tiêu hướng tới nâng cao 40% khả năng tư duy phản biện và cảm thụ văn học của học sinh thông qua các bài học cụ thể về Truyện Kiều và truyện ngắn hiện thực giai đoạn 1930 - 1945, triển khai theo lộ trình 12 tháng.

Thứ hai, các trường Đại học Sư phạm và Viện nghiên cứu chuyên ngành cần chủ trì biên soạn tài liệu chuyên đề tích hợp thi pháp học với văn hóa học. Mục tiêu xuất bản 3 bộ tài liệu bồi dưỡng giáo viên trong vòng 18 tháng nhằm cung cấp công cụ phân tích văn bản chuyên sâu, giúp người dạy thoát khỏi lối phân tích xã hội dung tục thuần túy.

Thứ ba, giáo viên bộ môn Ngữ văn cần chủ động ứng dụng sơ đồ tư duy và bảng so sánh trực quan trong 100% tiết giảng phân tích nhân vật, giúp người học dễ dàng nhận diện ranh giới giữa bút pháp ước lệ tượng trưng và bút pháp hiện thực cá thể hóa ngay trong học kỳ tới.

Thứ tư, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam cần mở rộng nghiên cứu đối chiếu thi pháp miêu tả ngoại hình sang các thể loại khác như tiểu thuyết Tự lực văn đoàn hay truyện thơ dân gian, phấn đấu công bố ít nhất 5 bài báo khoa học chất lượng trên các tạp chí chuyên ngành trong vòng 2 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm giáo viên Ngữ văn cấp THCS và THPT: Khai thác tài liệu làm giáo án mẫu, giúp xây dựng các tiết học chuyên đề so sánh văn học trung đại và hiện đại thêm sinh động, gia tăng hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết học về Truyện Kiều và truyện ngắn Nam Cao.

Nhóm sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam: Sử dụng công trình như một khung tham chiếu chuẩn mực về phương pháp so sánh loại hình học, phục vụ đắc lực cho việc viết khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ.

Nhóm các nhà nghiên cứu văn học và phê bình nghệ thuật: Tiếp cận hệ thống cứ liệu văn bản vững chắc cùng góc nhìn liên ngành văn hóa học để đào sâu bản chất của quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỷ 20.

Nhóm học sinh giỏi Ngữ văn và độc giả yêu mến văn học kinh điển: Tìm thấy những phát hiện thẩm mỹ tinh tế, nắm bắt chìa khóa giải mã ngôn từ nghệ thuật để nâng cao năng lực viết bài phân tích chuyên sâu đạt điểm số vượt trội trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Nguyễn Du sử dụng công thức ước lệ thiên nhiên khi tả Thúy Kiều và Thúy Vân? Bởi vì trong mỹ học trung đại, thiên nhiên vũ trụ là đỉnh cao của sự hoàn mỹ và chuẩn mực đạo đức. Nguyễn Du sử dụng các hình ảnh hoa cười ngọc thốt hay thu thủy xuân sơn nhằm tôn vinh vẻ đẹp trang trọng, đức hạnh và dự báo số phận của nhân vật theo quan niệm con người vũ trụ truyền thống.

Việc miêu tả chi tiết Mã Giám Sinh có đồng nghĩa Nguyễn Du viết theo chủ nghĩa hiện thực phương Tây? Không hoàn toàn như vậy. Mặc dù các chi tiết mày râu nhẵn nhụi hay áo quần bảnh bao rất chân thực, nhưng đây là biểu hiện của tư duy phân loại thời trung đại. Nhà văn dùng các nét vẽ trần tục để giáng cấp nhân vật phản diện, hoàn toàn khác với kỹ thuật tả thực cá thể hóa của tiểu thuyết phương Tây.

Sự khác biệt lớn nhất giữa cách tả ngoại hình của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan là gì? Nguyễn Công Hoan thiên về lối vẽ biếm họa, phóng đại các nét thô kệch bên ngoài để đả kích giai cấp thống trị. Trong khi đó, Nam Cao tập trung đặc tả những diện mạo dị dạng, tha hóa nhằm đi sâu giải phẫu bi kịch tinh thần và nỗi đau bị tước đoạt nhân phẩm của con người.

Luận văn đóng góp giải pháp gì mới cho việc giảng dạy tác phẩm văn học ở phổ thông? Luận văn cung cấp phương pháp tiếp cận trực quan thông qua việc so sánh đối lập diện mạo nhân vật giữa hai thời kỳ. Cách làm này giúp học sinh nắm bắt bản chất của hai nền văn học lớn một cách tự nhiên, dễ hiểu mà không bị rơi vào sự trừu tượng hóa lý thuyết.

Vì sao Nam Cao lại hạn chế miêu tả diện mạo bên ngoài của nhân vật trí thức? Vì đối với người trí thức tiểu tư sản như Hộ hay Thứ, bi kịch cốt lõi nằm ở những giằng xé nội tâm, sự bế tắc trong tư tưởng và cuộc đấu tranh bảo vệ nhân cách. Nam Cao chủ động lược bỏ chi tiết ngoại hình để tập trung toàn lực khắc họa thế giới tâm lý phức tạp.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật là một phạm trù lịch sử - thẩm mỹ, phản ánh sâu sắc sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người qua các thời đại.
  • Chứng minh thành công sự đối lập sâu sắc giữa bút pháp ước lệ tượng trưng lấy thiên nhiên làm mẫu mực trong Truyện Kiều và bút pháp tả thực cá thể hóa gắn với chiều sâu tâm lý của Nam Cao.
  • Đóng góp hệ thống luận điểm khoa học vững chắc và nguồn tư liệu đối sánh mẫu mực cho ngành thi pháp học lịch sử và loại hình học văn học Việt Nam.
  • Đề xuất giải pháp sư phạm khả thi giúp nâng cao chất lượng giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại và hiện đại trong nhà trường phổ thông trên toàn quốc.
  • Mở ra hướng nghiên cứu liên ngành rộng mở giữa văn học học, thi pháp học và văn hóa học trong lộ trình 12 đến 24 tháng tới.

Hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu này để trang bị phương pháp luận vững chắc và làm phong phú thêm kho tàng tri thức về thi pháp văn học Việt Nam qua các thời kỳ.