CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TIEN VE QUAN HE DONG MINH MỸ - NHẬT 1. Cơ sở lý luận chung về quan hệ đồng minh 1. Định nghĩa “quan hệ dong minh” Theo Từ điển Cambridge, Đồng minh là tập hop của các quốc gia, đảng phái chính trị hay con người hành động cùng nhau nhăm đạt được những mục tiêu chung, lợi ích chung [Cambridge Dictionary, 2017]. Quan hệ đồng minh là mỗi quan hệ giữa hai hay nhiều quốc gia, tổ chức, đảng phái có liên kết với nhau thông qua các hiệp ước vì một mục tiêu, lợi ích chung.
Quan hệ đồng minh khi được công nhận một cách chính thức bằng hiệp định quốc tế sẽ có tính ràng buộc pháp lý đối với các quốc gia thành viên. “Quan hệ đồng minh thường quy định trong các hiệp ước những điều kiện liên quan đến sự hưởng ứng và hỗ trợ về quân sự theo yêu cầu. Ở mức độ thấp nhất, những quy định hợp tác này sẽ bao gồm các hoạt động như diễn tập quân sự chung, chia sẻ thông tin tình báo, đào tạo nhân viên, chuyển giao vũ khí. Ở mức độ cao hơn, những cam kết này còn bao gồm việc gửi quân tham chiến cùng nhau, phối hợp tác chiến, hỗ trợ hậu cần.
khi xảy ra chiến tranh chống lại một nước thành viên. Ngoài các hoạt động thường thấy về quân sự, hoạt động của các đồng minh còn được thể hiện qua su hỗ trợ cần thiết, phối hợp với nhau băng con đường ngoại giao trong chính sách ngoại giao chung của các nước thành viên.” [Đào Minh Hồng, 2015] Theo các học giả Jonathan Pollack và Cha Young Koo thì một mỗi quan hệ đồng minh cần bao gồm các thành phần sau: 1) khái niệm hoặc mục tiêu chiến lược xác định nghĩa vụ chung của các đối tác đồng minh; 2) một chiến lược phòng thủ chung mà qua đó các vai trò, sứ mệnh và trách nhiệm được xác định rõ; 13 3) thỏa thuận về các hình thức và cấp lực lượng cần thiết dé thực hiện một chiến lược phòng thủ chung; 4) một loạt các thỏa thuận chuyên biệt hơn về quan hệ chỉ huy, bồ trí căn cứ và chia sẻ gánh nang [Jonathan D.Pollack, Young Koo Cha, 1995, tr. Trong một mối quan hệ đồng minh, vai trò của chiến lược và mục tiêu chung đóng vai trò rất quan trọng bởi đây sẽ là nền tang dé xây dựng và phát triển cho các khuôn khổ, cơ chế và sự phối hợp của hai bên. Khi có một chiến lược chung, các quốc gia đồng minh sẽ có thé điều chỉnh chính sách ngoại giao, quốc phòng của mình để phù hợp với định hướng chung đã thống nhất của các thành viên trong nhóm; và đây cũng sẽ là trụ cột cho các quốc gia thành viên dựa theo dé xây dựng những chính sách điều hành và tạo điều kiện tăng cường hợp tác, kết nỗi giữa các thành phần trong khối đồng minh.
“Quan hệ Đông minh” dưới góc nhìn của Chủ nghĩa hiện thực và Chủ nghĩa tự do Trong cuốn “Theory of international politics”, Kenneth Waltz đưa ra một định nghĩa cho “Đồng minh” la: “Khối dong minh được tao ra bởi các quốc gia có những lợi ích chung, nhưng không phải toàn bộ những giá trị lợi ích của họ đều trùng nhau. Lợi ich chung ở đây thường là một nhân tổ tiêu cực ví dụ như sự lo sợ về các quốc gia khác” [Kenneth N. Học gia George Liska thì coi dong minh về cơ bản là sự liên kết chính thức giữa hai hoặc nhiều nước chống lại mối đe dọa của một nước thứ ba mạnh hơn. Bản thân sự kết hợp mà Liska gọi là "sự liên kết" tương đồng với những dự đoán mà lý thuyết cân bằng quyên lực của Waltz nêu ra rằng “các quốc gia thành lập quan hệ đồng minh dé cân bằng quyền lực với các quốc gia khác đang bị coi là nguy hiểm, đe dọa an ninh của chính họ” [Kenneth N.
Các quan hệ đồng minh đối với Liska chỉ đơn thuần là chính thức hóa những liên kết này [George Liska, 1968, tr. Vì vậy, đối với ông, 14 xung đột là yếu tố quyết định chính của sự liên kết và quan hệ đồng minh, và mối de dọa hay tiềm năng của quyền lực được sử dụng như một thuật ngữ thường thấy trong nghiên cứu về cân bang quyên lực và là động lực dé duy tri đồng minh: "Khối đồng minh cùng chống lại, nhằm vào một nước nao đó hoặc một cai gi do" [George Liska, 1968, tr. Cac tac gia Ole Holsti, Terrence Hopmann va John Sullivan thi dinh nghĩa ngắn gon về khái niệm này như sau: "Đồng minh là một thỏa thuận chính thức giữa hai hoặc nhiều quốc gia để hợp tác trong các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia" [Ole R. Tổng kết lại thì trong quan điểm của chủ nghĩa hiện thực đồng minh sẽ là mỗi quan hệ giữa hai hay nhiều quốc gia liên kết với nhau vì một lợi ích chung hay mối đe dọa chung.
Các học giả của chủ nghĩa hiện thực trong các định nghĩa của mình về đồng minh nhắn mạnh ở mục tiêu chung và lợi ích mà các quốc gia sẽ đạt được thông qua mối quan hệ đồng minh, đồng thời phần lớn những yếu tố này sẽ liên quan đến an ninh. Trong khi đó, các học giả của chủ nghĩa tự do khi nhìn nhận về đồng minh thường chú ý vào yếu tố thé chế hơn là các khía cạnh cá nhân hay thực tiễn như các nhà nghiên cứu của thuyết hiện thực. Hai nhà nghiên cứu nổi bật của trường phái tự do là Robert Keohane và Joseph Nye đưa ra khái niệm về sự phụ thuộc lẫn nhau phức tạp giữa các chủ thê và lập luận rằng các quốc gia càng liên kết với nhau chặt chẽ thì chiến tranh càng ít xảy ra [Keohane Robert O. Theo quan điểm của trường phái này, tính liên kết của các quốc gia thường đạt được thông qua khuôn khổ của quan hệ đồng minh, nhưng các học giả của chủ nghĩa tự do cũng nhắn mạnh vai trò trung tâm của các thê chế chính thức trong việc thúc đây sự hợp tác hiệu quả giữa các quốc gia [Axelrod R.
15 Cũng như vậy, dựa trên khái niệm về Lý thuyết hòa bình dân chủ, Brian Lai và Dan Reiter khăng định răng kiểu chính quyền của một nhà nước có thê ảnh hưởng đến khả năng hình thành đồng minh [Brian Lai & Dan Reiter, 2000, tr. Do đó, khi đề cập đến quan hệ đồng minh, những người theo chủ nghĩa tự do nhìn vào hai yếu tố quan trọng: Đầu tiên, họ cho rằng các thể chế chính thức là cần thiết dé đạt được sự hợp tác có ý nghĩa giữa các đồng minh. Thứ hai, các quan hệ đồng minh không nhất thiết phải mang tính yêu chuộng hòa bình mà cung cấp các phương tiện hòa bình dé giải quyết xung đột [David Frederick Lemmons, 2012]. Do đó có thé thay răng các học giả của trường phái Tự do luôn đề cao vai trò của các thê chế, tô chức và sự hợp tác giữa hai bên trong mối quan hệ đồng minh, đây sẽ là những trụ cột cơ bản và quan trọng của các quan hệ đồng minh.
Ngược lại, quan điểm của chủ nghĩa hiện thực lại chú trọng vào yếu tố kết qua và mục tiêu chung trong thực tế của mối quan hệ đồng minh, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh va coi đó là nên tảng căn bản kiến tạo nên quan hệ đồng minh. Ngoài ra, các học giả của Mỹ va Nhật Ban cũng có những định nghĩa về quan hệ đồng minh. Theo như quan điểm của các nhà nghiên cứu Mỹ về mối quan hệ đồng minh của nước này thì: “Khối dong minh sẽ là những hiệp ước chính thức giữa hai hay nhiều quốc gia. Hầu hết đồng minh truyền thống của Mỹ là những quan hệ đồng minh chính thức được xây dựng vào thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh trong lĩnh vực an ninh, quân sự nhằm mục tiêu trợ giúp lẫn nhau dé cùng đối phó với một mối đe dọa, vấn đề chung.
Giữa định nghĩa của họ và định nghĩa chung về đồng minh của các học giả trên thế giới về cơ bản là tương đồng nhưng học giả Mỹ chú trọng hơn 16 vào yếu tố là những lợi ích mà Mỹ có thé đạt được trong một mỗi quan hệ dé xác định xem mối quan hệ đó có được coi là một đồng minh đúng nghĩa của Mỹ hay không và Mỹ chỉ công nhận một mối quan hệ là quan hệ đồng minh khi giữa các nước thành viên có ký kết một hiệp ước chính thức nhằm tạo ra một sự cam kết lẫn nhau giữa các nước trong quan hệ đồng minh. Còn từ phía các nhà nghiên cứu Nhật Bản, khi nhắc đến quan hệ đồng minh với Mỹ là đề cập đến mối quan hệ dựa trên Thỏa thuận An ninh Mỹ- Nhật, theo đó cả hai quốc gia, với tư cách là các quốc gia chia sẻ các giá trị và lợi ích cơ bản, phối hợp và hợp tác chặt chẽ trong nhiều lĩnh vực về an ninh, chính trị và kinh tế [Japan Ministry of Defense, 2018, tr. Các nhân tô tác động tới quan hệ đồng minh Mỹ - Nhật 1. Boi cảnh quốc tế Những thay đổi trong cán cân quyền lực trên trường quốc tế đang ngày càng trở nên phức tap hơn ké từ khi bước sang thế kỷ mới, trong khi đó các thách thức an ninh cũng đã có sự mở rộng và đa dạng hóa hơn về hình thức, chăng hạn như những thách thức mới nỗi liên quan đến an ninh kinh tế và các van đề khác, các mối đe dọa trong các lĩnh vực mới, bao gồm cả không gian vũ trụ và không gian mạng.
Đồng thời, c nghĩa bảo hộ và xu hướng hướng nội cũng đang quay trở lại dé phản ứng với tình trạng toàn cầu hóa nhanh chóng, ngay cả ở các quốc gia đã được hưởng những lợi ích của thương mại tự do, chăng hạn như Mỹ và Châu Âu. Hơn nữa, trật tự quốc tế dựa trên các giá tri phổ quát chang hạn như tự do, dân chủ, nhân quyền và pháp quyền, nền tang cho sự ôn định và thịnh vượng của thế giới, đang bị thách thức băng những nỗ lực đơn phương để thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc ép buộc, cũng như bằng cách lan rộng chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa bạo lực cực đoan. Sự phối hợp của hai quốc gia đồng minh cũng vì thế mà được mở rộng ra nhiều lĩnh vực hơn. Mục tiêu của hai quốc gia trong giai đoạn hiện nay tập trung nhiều hơn vào việc phổ biến những giá tri tự do về hàng hải và thương mai.