Chương I: Cơ sở hình thành những dau an của có thủ tướng shinzo abe đối với ngoại giao nhật ban Chương II: Những dau an của cỗ thủ tướng shinzo abe đối với ngoại giao nhật bản (2012-2020) Chương III: Dự đoán chính quyên sau Abe 7. Đóng góp của đề tài Bằng những nguồn dữ liệu, tài liệu nước ngoài và hình ảnh trực quan sinh động, dang tin cậy về thủ tướng Shinzo Abe từ 2012-2020. Tác giả hy vọng, dé tài có thê 1a một tài liệu tham khảo cho những đối tượng có quan tâm đến nội dung mà đề tai mang lại. CHUONG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH NHUNG DAU ÁN CUA CÓ THỦ TƯỚNG SHINZO ABE DOI VỚI NGOẠI GIAO NHẬT BAN 1.
Vài nét về Thủ Tướng Shinzo Abe Shinzo Abe sinh ngày 21 thang 9 năm 1954 tại Nagato thuộc vùng Yamaguchi, trong một gia đình chính trị gia. Ông xuất phát từ một gia đình có truyền thông chính trị lâu đời từ cả hai nhánh của gia đình, ông có những người thân nắm giữ các chức vụ chính trị quan trọng. Ông ngoại của ông là Nobusuke Kishi, một nhân vật hàng đầu trong Chính phủ trong thế chiến thứ hai, từ năm 1930, ông là Thứ trưởng bộ công nghiệp của Manchukuo và nam 1940, ông trở thành Thứ trưởng bộ thương mại va công nghiệp. Trong thời kỳ hậu chiến góp phần vào sự ra đời của đảng dân chủ tự do vào năm 1955.
Khi mới bắt đầu sự nghiệp chính trị, Abe bắt đầu làm thư ký cho Bộ trưởng Ngoại giao Shintaro Abe vào năm 1982, và ông trở thành nhà lập pháp của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) sau cái chết của cha mình vào năm 1993. Trong chính phủ Junichiro Koizumi, Abe từng là Trưởng Nội các, và vào tháng 9 nam 2006, ông trở thành thủ tướng trẻ nhất của Nhật Ban từ thời hậu chiến. Mặc dù đây là một thời gian ngắn, nhưng Abe da trở lại nim quyền vào tháng 12 năm 2012 va trở thành thủ tướng tại vị lâu thứ ba trong nền chính trị Nhật Bản thời hậu chiến sau Eisaku Sato và Shigeru Yoshida. Shinzo Abe được miéu tả là một người có tính cách kiên định, cứng rắn và quyết đoán.
Ông có đam mê với chính trị từ nhỏ, khi được gia đình lớn nuôi đưỡng trong môi trường chính trị. Abe thường được xem là một người có tầm nhìn xa hơn, tập trung vào chiến lược và mục tiêu lâu đài, và sẵn sàng đưa ra những quyết định khó khăn dé đạt được mục tiêu đó. Ngoài ra, Shinzo Abe cũng được biết đến là một người rất trọng tài sản giá trị gia đình và sự nghiệp. Ông thường được miêu tả là một người khá kín tiếng và ít điển đạt cam xúc, tuy nhiên, ông có khả năng đảm phán và thương lượng tốt, đặc biệt trong các van đẻ liên quan đến chính sách đối ngoại va an ninh.
Trong suốt nhiệm kỳ Thủ tướng của mình, Shinzo Abe cũng được đánh giá cao về kỹ năng quan lý va lãnh dao, đặc biệt là trong việc đưa ra các chính sách kinh tế mang tính đột phá, như chính sách "Abenomics". Trong nội các thứ hai của ông, vao ngày 17 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Abe đã giương cao ngọn cờ đóng góp tích cực cho hòa bình (sekkyokuteki heiwashugi) dựa 10 trên chủ nghĩa hợp tác quốc tế (kokusai kyochoshugi) như một khái niệm cơ bản về chính sách đối ngoại và an ninh của Nhật Bản trong Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS). Khái niệm đóng góp chủ động cho hòa bình này là gì? Lam thé nào dé Nhật Bản đóng góp tích cực cho hòa bình và an ninh quốc tế dựa trên khái niệm an ninh và đối ngoại mới? Khái niệm đóng góp chủ động cho hòa bình đề cập đến việc các cá nhân, tô chức. cộng đồng vả các quốc gia tham gia tích cực trong việc xây dựng hòa bình và ngăn chặn xung đột.
Đóng góp chủ động được thực hiện thông qua nhiều cách khác nhau, bao gồm: Hỗ trợ tài chính: Các cá nhân, tô chức và quốc gia có thé đóng góp tài chính để hỗ trợ các nỗ lực hòa bình và phát triển cộng đông. Giáo dục: Cung cấp giáo dục về hòa bình, quyên con người và đa dạng văn hóa đề tăng cường hiểu biết va sự đồng tình giữa các dân tộc. Xây dựng mối quan hệ: Tạo ra mỗi quan hệ tích cực giữa các quốc gia, cộng đồng và cá nhân dé tăng cường sự hiểu biết và sự tôn trọng đối với nhau. Thúc đây giải quyết xung đột: Tìm kiểm giải pháp đối thoại dé giải quyết xung đột và thúc day sự hòa giải trong các tình huống đối nghịch.
Công tác từ thiện: Tham gia các hoạt động từ thiện dé giúp đỡ các đối tượng can thiết và thúc đây Sự đoàn kết và tình thương. Tong quát, đóng góp chủ động cho hòa bình có thé giúp tạo ra một thé giới bình yên và tăng cường sự hiểu biết và tôn trọng giữa các quốc gia va cộng đồng. Đúng vậy, Nhật Bản đã đóng góp tích cực cho hòa bình và an ninh quốc tế thông qua khái niệm an ninh và đối ngoại mới (New Security and Diplomacy). Khái niệm nay được đưa ra vào năm 2014 bởi Chính phủ Nhật Bản nhằm tăng cường vai trò của nước này trong bảo vệ an ninh và đóng góp vào hòa bình và sự phát triển ở khu vực và trên thé gidi.
Vài nét về chính phủ thủ tướng Shinzo Abe Vào năm 2012, Shinzo Abe trở lại chính trưởng với ty lệ ủng hộ của cử trí lên tới 60% và trở thành Thủ tướng Nhat Bản có sức ảnh hưởng hơn cả các bậc tiền bối. Tại phiên họp toàn thé quốc hội đặc biệt ngày 26/12/2012, Chủ tịch đảng Dan chủ Tự do Shinzo Abe đã được bau làm Thủ tướng thứ 96 của Nhật Ban. Ong Abe là người thứ hai sau cô Thủ tướng Shigeru Yoshida với hai lần làm thủ tướng kể từ sau Chiến tranh thé giới thứ hai. Thủ tướng Shinzo Abe và Nội các mới của mình tập trung vào khôi phục kinh tế, tái thiết cùng Đông Bắc bị động đất, sóng thần tàn phá và chịu ảnh hưởng của sự cố hạt nhân Fukushima.
Shinzo Abe đã b6 nhiệm những chính trị gia giàu kinh nghiệm vảo các vị trí quan trọng điều hành nên kinh tế và tải chính, như cự 11 Thủ tướng Taro Aso làm Phó Thủ tướng kiếm Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng phụ trách dich vụ tai chính. Mặc dù được cho là người thừa kế của Junichiro Koizumi, Abe tỏ ra thiểu quyết đoán trong cải cách kinh tế, do dự giữa chủ nghĩa phát triển LDP truyền thống và chủ nghĩa tân tự do của người tiền nhiệm (Mishima, 2012, trang 2§0). Nội các của ông, bao gôm phần lớn là những người điều hau bao thủ, cũng không tập trung. Một loạt những hớ hénh và bê bối liên quan đến các bộ trưởng và cô vấn cấp cao của Abe đã khiến ty lệ ủng hộ ông giảm xuống 29%.
Cuối củng, nhiệm ky thủ tưởng dau tiên của Abe đã bị giáng một đòn chí mạng bởi thất bại của LDP trong cuộc bau cử Ủy viên Ha viện vào tháng 7 năm 2007. Sáu tuần sau, Abe tuyên bố từ chức. Kê từ thất bai trong cuộc bau cử năm 2012, DPJ đã phải đối mặt với những bat đồng nội bộ (sự chia rẻ thực sự bắt đầu trước khi đảng nay mat quyền lực va là một nhân tô dẫn đến thất bại). đặc biệt là về các vẫn đề gây tranh cãi như quyền tự vệ tập thé.
Trong cuộc tong tuyển cử năm 2014, DPJ chỉ giành được 73 ghế, kết quả chỉ tốt hơn một chút so với năm 2012. Ngược lại, trong nhiệm ky thủ tướng đầu tiên của Abe, DPI đang ở thế thượng phong. Trong các cuộc bầu cử vào Hạ viện, vào tháng 7 năm 2007, DPJ đã giành được 60 ghế, nâng tong số ghế của họ lên 109 va trở thành đảng lớn nhất trong mỗi viện. Chiến thắng của DPI, khiến chính phủ do LDP lãnh đạo mất đi đa số ghế trong phòng thứ hai, là chiếc đỉnh cudi cùng đóng vào quan tài của nhiệm ky thủ tướng đầu tiên của Abe.
Trong nhiệm kỳ thứ hai của Abe, các đảng đối lập khác của Nhật Bản không thé kiểm tra chính phủ của ông tốt hơn DPJ, không có đảng nào khác ngoai LDP va DPJ nhận được hơn 10% số ghế trong cuộc tông tuyển cử năm 2014. Quyền lực tối cao trong nghị viện của LDP không chỉ đơn thuần thé hiện sự trở lại với sự thống trị độc đảng của hệ thong năm 1955.! Việc LDP không gặp phải sự phan đối đáng kê nao trong nhiệm kỳ thứ hai của Abe là điều chưa từng có trong lịch sử, Cho đến năm 1993, các đảng cánh tả của Nhật Ban cùng nhau giảnh được khoảng 30% số ghế trong quốc hội. Ngảy nay, chúng giảm xuống còn khoảng 5%. Thêm vào đó, các dang đối lập trong hệ thong năm 1955 đã đưa ra các quan điểm chính sách rõ rang và thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ của công chúng đôi với một sô quan điểm chủ chốt ' LDP nắm giữ quyên lực liên tục từ năm 1955 đến năm 1993.
Họ trở lại năm quyền với đa số cam quyền vào nim 1996 và nắm quyền cho đến năm 2009. 12 của ho, đặc biệt la về phúc lợi xã hội va quân đội. Kha năng của các dang đối lập trong việc kiểm tra chính phủ LDP trong quá khứ mạnh hơn nhiều so với hiện tại, khi phe đối lập không chắc chắn họ phản đối điều gì hoặc phương án thay thể nào chính sách mà nó hỗ trợ (Curtis, 2014). Abe đã khai thác điểm yếu của phe đối lập dé thúc đây các cải cách gây tranh cãi như Đạo luật Bí mật năm 2013 và việc diễn giải lại Điều 9, những chính sách không thé tưởng tượng được trong bối cảnh chính trị trong nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên của ông.
Chính phủ dau tiên của Abe bat ồn bởi hang loạt bất đồng và bê bối liên quan đến các đại diện của LDP. Ngược lại, trong hai năm sau khi giành được LDP làm tông thống, vào tháng 9 năm 2012, Abe da được hưởng lợi từ một số may mắn vé mặt kỷ luật đảng nội bộ. Giai đoạn đối lập kéo dai từ năm 2009 đến 2012 đã tạo ra sự tự kiềm chế lớn hơn giữa các đại điện của đảng.? Rò ri thông tin va sự bất man của công chúng đã trở nên ít phô biến hon trong LDP ké từ khi Abe trở lại vị trí lãnh đạo vào thang 9 năm 2012. Cũng có ít vụ bê bối hơn trong LDP trong 1§ tháng trong nhiệm kỳ thứ hai của Abe so với nhiệm kỳ đầu tiên.
Mặt khác, chính phủ thứ hai của Abe cũng quyết đoán đối với bộ máy quan liêu.