Chương 1. NHỮNG CƠ SỞ CHO SỰ HINH THÀNH CHÍNH SÁCH DOI NGOẠI CUA NHAT BAN DOI VỚI KHU VUC DONG NAM A DƯỚI THỜI THỦ TƯỚNG ABE SHINZO (2012 — 2020) 1. Co sở lý luận 1. Khái niệm chính sách đối ngoại Trước khi tìm hiểu và đi sâu vào phân tích chính sách đối ngoại của một quốc gia, việc làm rõ khái niệm của thuật ngữ "chính sách đối ngoại” là bước khởi đầu cần thiết trong đa số trường hợp.
Vậy chính sách đối ngoại là gì? Theo nhà nghiên cứu chính trị Charles Hermann, chính sách đôi ngoại là một “khdi niệm bị bỏ quên ” (Charles F. Ông khăng định. “Sự lãng quên này là một trong những trở ngại nghiêm trọng nhất trong việc đi đến những lý giải đây đủ và toàn điện hơn về chính sách đổi ngoại. ” Hermann cũng cho rằng một phan lý do của sự thờ ơ đó là vì "hầu hết những người làm việc với chủ dé này đều cảm thấy tự tin rằng họ biết chính sách đối ngoại có nghĩa là gì” (Charles F.
Xét cho cùng, Hermann định nghĩa chính sách đối ngoại là “hảnh động có mục đích riêng biệt, xuất phát từ quyết định ở cấp độ chính trị của một cả nhân hoặc một nhóm những cá nhân. Chính sách đối ngoại không phải là quyết định, mà là sản phẩm của quyết định” (Charles E. Với quan điểm chính sách đổi ngoại là sản phẩm của quyết định, vậy có nghĩa chính sách đối ngoại là nhân tố có thê nhìn thay bang mắt thường thê hiện qua những thành tựu ở các lĩnh vực như chính trị, ngoại giao hoặc kinh tế, Dé đạt được những thành tựu nảy, chính sách đối ngoại của một quốc gia sẽ có vai trò tuyên bố và dé ra những mục tiêu cụ thé, do đó, nghiên cứu về chính sách đôi ngoại cũng chính là nghiên cứu về việc xây dựng nên nội dung và quá trình thực hiện chính sách. Với cách tiếp cận chính sách đối ngoại mang ít nhiêu nét đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực tân cô điển, Giáo sư Deborah J.
Gerner định nghĩa chính sách đối ngoại như là “ý dinh, tuyên bó và hành động của một chủ thể (trong nhiều trường hợp nhưng không phải luôn luôn), hoặc của một quốc gia, hướng ra thể giới bên ngoài và hướng đến phản ứng của các chủ thé khác đổi với những ¥ định, tuyên bố và hành động nay. Trong định nghĩa của Giáo sư Gerner, trong tâm tuy là các quốc gia nhưng đây cũng 20 không han là điều tat yếu phải xảy ra đúng như vậy. Bởi lẽ, các chủ thể khác — ching hạn như các nhóm lợi ích, doanh nghiệp.trong hệ thong quốc tế cũng sẽ xây dựng nên các nguyên tắc và mục tiêu nhằm định hướng hành động của họ trong quan hệ với các chủ thé quốc tế khác. Vậy có thé nhận thay, chính sách đối ngoại được hoạch định không riêng chỉ vì sự chỉ phối của các nhân t6 bên trong mà còn chịu ảnh hưởng đáng ké từ các yếu tô bên ngoài trong hệ thông quốc tế.
Mỗi quan hệ phức tạp giữa các nhân tổ kha biến cấp đơn vị và hệ thông trong việc định hình chính sách đối ngoại ton tại đối với mọi quốc gia. Các biến số ở cấp độ đơn vị sẽ hạn chế hoặc trái lại, tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng của tat cả các loại hình quốc gia — cường quốc cũng như các quốc gia nhỏ hơn — trong việc đáp ứng các nhu cầu mang tính hệ thông (Jeffrey W. Taliaferro et al, 2009, p. Sự ra đời Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam Á thời Thủ tướng Abe Shinzo (2012 - 2020) là kết quả từ sự kết hợp giữa động lực bên trong và sức ép của môi trường bên ngoài, khi những thành tựu đáng kẻ về kinh tế và khoa học công nghệ của Nhật Ban tạo nên động lực thúc day quốc gia này tăng cường dau tư tại những khu vực đang phat triển và có giá trị địa chiến lược quan trọng trên thế giới.
Trên quan điểm của GS. Dương Xuân Ngọc va TS. Lưu Văn An về chính sách đối ngoại được nêu trong Giáo trình quan hệ chính trị quốc tế, chính sách đối ngoại là “tổng thể những chiến lược, sách lược. chủ trương.
quyết định và những biện pháp do nhà nước hoạch định và thực thi trong quá trình tham gia tích cực, có hiệu quả vào đời sống quốc tế trong từng thời kỳ lịch sử, vì lợi ích quốc gia, phù hợp với xu thé phát triển của tình hình thế giới và pháp luật quốc tế” (Dương Xuân Ngoc, Luu Văn An, 2008, tr. Hơn nữa, theo GS. Vũ Dương Huân, chính sách đối ngoại là sự tiếp tục của chính sách đối nội, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đạt được sự thịnh vượng về kinh tế, hay bảo vệ vả tối đa hóa lợi ích quốc gia nói chung, thông qua các con đường như hợp tác, cạnh tranh, xung đột, hoặc thậm chí là chiến tranh (Vũ Dương Huan, 2020, tr. Trong thời đại ranh giới giữa các quốc gia ngày càng mờ dan như ngày nay, vai trò của chính sách đối ngoại lại trở nên đặc biệt quan trọng hơn vì việc giao lưu, hợp tác là xu the tat yếu.
Chủ nghĩa tự do đã nhắn mạnh về đặc trưng phụ thuộc lẫn nhau của các nhân tố trong hệ thống quốc tế (Andrew Moravesik, 1997), và vì thé hiếm có một quốc gia nào có thé tồn tại một cách biệt lập mà không tương tác với các chủ thê khác trong quan hệ quốc 21 tế, Điều này giải thích cho việc chính quyền của Thủ tướng Abe Shinzo tích cực hoạch định Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam A, đáp ứng sự kêu gọi của xu thể toàn cầu hoá và ký nguyên của hợp tác, đối thoại. Giá trị địa - chính trị và địa — chiến lược của khu vực Đông Nam A đối với Nhat Bản Hiện nay, với xu thé toản cầu hoá đang không ngừng phát triển và len lỏi sức ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của các khu vực trên toàn thé giới. sự gia tăng các môi quan hệ hợp tác chiến lược giữa Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á chính là kết quả tất yêu của xu thé này. Vai trò to lớn của Nhật Bản trong việc đóng góp vào hoà bình, ôn định của thé giới nói chung và đối với tiến trình phát triển của khu vực Đông Nam A nói riêng không chỉ phản ánh vị thế và sức mạnh lớn lao của Nhật Ban, mà còn gợi mở câu hoi về vị trí và vai trò của khu vực Đông Nam Á trong lợi ích chiến lược của cường quốc tầm trung hàng đầu nay, Theo đó, đối với Nhật Bản, giá trị địa — chính trị va địa — chiến lược của Đông Nam A chính là những nhân tô khách quan thuộc hệ thong khu vực châu A - Thái Bình Dương, và những nhân tố này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc định hình chính sách đối ngoại của Nhật Bản tại khu vực.
Địa chính trị và địa chiến lược là hai thuật ngữ chia sẻ nhiều nét tương đồng nhưng giữa chúng cũng tồn tại những điểm khác biệt nhất định. Theo quan điềm của tác giả Nguuyễn Thẻ Lực và Nguyễn Hoàng Giáp, “dia — chính trị là khoa học nghiên cứu về môi quan hệ biện chứng giữa các yếu tô địa lý và chính trị. Mục đích của nó là nhằm luận giải các quan hệ quốc tế dựa trên các yeu tô địa lý, tức là nghiên cứu các thực thẻ, quá trình, xu hướng cũng như sự phân bố quyên lực chính trị trên phạm vi địa lý và trong thời điểm lịch sử cụ the” (Nguyễn Thế Lực & Nguyễn Hoàng Giáp, 2000, p. Các nhà nghiên cứu địa chính trị cho rằng yếu tổ địa lý có mối liên hệ nhất định đối với sức mạnh và sự phát triển của một quốc gia (Lê Hong Hiệp.
ví dụ các quốc gia ven biên của Đông Nam A như Việt Nam hoặc quốc đảo như Nhật Ban sẽ xem biên là nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế — xã hội. Hơn nữa, cả Nhật Ban và các nước Đông Nam A đều là thành viên thuộc hệ thong khu vực châu A - Thái Bình Dương và cùng chia sẻ vấn đề căng thăng về hàng hải đang gia tăng tại khu vực này, đặc biệt là xung đột lợi ích chồng chéo của các quốc gia tại Biên Đông. Do đó, việc Nhật Bản tham tw tw gia vào sự phát triển kinh tế — xã hội khu vực Đông Nam A không chỉ đóng góp cho hoà bình, thịnh vượng tại khu vực ma còn nhằm giúp gia tăng vị thé của Nhật Ban va phát triển khả năng tự vệ trong bối cảnh căng thăng hàng hải không có dấu hiệu suy giảm. Mặc dù không thê phủ nhận tam quan trong cua yếu tố địa chính trị đối với chính sách đối ngoại, nhưng dựa trên lý lẽ của quan điểm hiện thực tân cô điền rằng chính sách đối ngoại ra đời bởi sự chi phối của các yếu tổ bên trong lẫn bên ngoài (Gideon Rose, 1998), địa lý vì vậy cũng không phải là nhân tô duy nhất tác động đến lựa chọn chính sách của một quốc gia.
Đặc biệt khi ranh giới địa lý của các quốc gia dan lu mờ trong thời kỳ toàn cầu hoá hiện nay, vai trỏ của yếu tô địa chính trị cũng trở nên suy giảm đáng kê. Luôn gắn bó chặt chẽ với khoa học địa chính trị, địa chiến lược là nhân tổ có vai trò đưa ra định hướng địa lý trong chính sách đôi ngoại của một quốc gia và là “một bo phan thực hành quan trọng của địa chính trị" (Nguyễn Văn Dân, 2014). Tuy thuật ngữ “dia chiến lược” đã xuất hiện từ khá sớm nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa mang tính thông nhất về “dia chiến lược. Với xu thé chuyền dịch trọng tâm kinh tế và chính trị thé giới từ Dong sang Tây của thé kỷ 21, khu vực châu A - Thái Bình Dương trở thành tâm điểm cho sự phát triển và quy tụ những lợi ích cơ bản về chính trị, an ninh và chiến lược quan trọng của các cường quốc.
Tuy nhiên, khu vực này đông thời cũng trở thành môi trường trực tiếp cho cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn với mục tiêu trở thành cường quốc toàn cầu (Đặng Cẩm Tú, 2022). Tại khu vực châu A — Thái Bình Dương, Đông Nam A với vị trí địa lý chiến lược và tiềm nang kinh tế to lớn, đã trở thành mắt xích trọng tâm với nhiều gia tri địa chính tri va địa chiến lược quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, bao gồm Nhật Ban.